Diễn đàn của người dân Quảng Ngãi
giới thiệu | liên lạc | lưu niệm

 April 05, 2025
Trang đầu Hình ảnh, sinh hoạt QN:Đất nước/con người Liên trường Quảng Ngãi Biên khảo Hải Quân HQ.VNCH HQ.Thế giới Kiến thức, tài liệu Y học & đời sống Phiếm luận Văn học Tạp văn, tùy bút Cổ văn thơ văn Kim văn thơ văn Giải trí Nhạc Trang Anh ngữ Trang thanh niên Linh tinh Tác giả Nhắn tin, tìm người

  Tạp văn, tùy bút
CHỮ NGHĨA GIỮA HỒI ĐẠI DỊCH (Cao Vị Khanh)
Webmaster

 

Giới thiệu: Một bài viết công phu, xác thực về chuyện “chữ nghĩa thời nhà sản”. Không phải là “chuyện chính trị” như những ai muốn “đem chiến tranh sang nước khác” khi bị dị ứng. Sau ngày mất nước, có lần tôi bàn cãi một sự việc với 1 tên cán ngố, khi đuối lý, y nói “Đảng nói vậy!” Đúng là “vô phương”! (Webmaster)

Bài nầy được đăng trên facebook nhưng bị facebook gỡ ngay vì "vi phạm tiêu chuẩn cộng đồng". *Xem hình dưới).

 

 

CHỮ NGHĨA GIỮA HỒI “ĐẠI DỊCH”.

Cao Vị Khanh.

 

Đã lâu lắm, lâu từ cái lúc ôm nỗi nhục bỏ nước trốn đi, tôi ít khi tìm nhớ lại khoảng thời gian tôi đã sống qua ở đó, sau tháng Tư năm bảy mươi lăm. Trại tù. Học tập. Cải tạo. Chợ trời. Phường. Khóm. B2 B3. Biểu ngữ. Tuyên cáo. Nghị quyết. Những chiếc loa phóng thanh ra rả đêm ngày. Nón cối. Dép râu. Túi dết. Những cuốn sách trân quý như người tình đầu đời bị chất đống trên những chiếc xe ba gác truy-lùng-sách-vở-phản-động (sic). Và phừng phừng ngọn lửa phần thư nơi đầu đường xó chợ. V.v… và v.v…

 

Tôi cố quên những hình ảnh, những cảnh tình đã sống trong 5 năm trót được… “giải phóng”. Tôi cố quên như cố quên một mụt nhọt đến hồi làm độc, sưng tấy máu mủ đau nhức cùng cực rồi thời may lặn mất. Vậy rồi, riết thành quen, tôi quên luôn tôi đang có một nước Việt Nam không còn dính dáng gì đến tôi vì thứ chính trị cuồng tín dựa hoàn toàn trên sự ngụy trá, một nước Việt bị tàn phá còn điêu tàn hơn cái lúc bị dập vùi bằng súng đạn.

 

Tôi sống lơ ngơ ở xứ người, may là lao động để kiếm ăn chớ không phải lao động để vinh quang như lời bác-và-đảng (?!) đã “dạy” nên dù cực thấy mồ mà vẫn thấy khỏe ru, lúc rảnh rỗi lại cãi lời “bác-và-đảng” (?!), vảnh tai nghe nhạc vàng đến nỗi đâm ra mê mẩn, rồi lại lục lọi tìm đọc cho được thơ văn của những tên tuổi cũ từ thuở Sài-Gòn chưa đổi tên, đôi khi chen vào những cuốn phim Tây, phim Mỹ… Tại (nhờ) vậy mà rồi quên bẵng cái thiên đàng xhcn mà “bác-và-đảng” (?!) đã dày công chụp giựt cho được, bất kể bê bết máu xương.

   

 

Phóng ảnh "lệnh" của thằng rể Tàu Cộng.

 

Thật ra không phải tôi muốn quên, chỉ là tôi không muốn nhớ.

 

Tôi không muốn nhớ lại vì chỉ vỏn vẹn trong năm năm ở đó mà tôi thấy như mình vừa trợt chân tuột lại phía sau hằng hằng thế kỷ trên biểu đồ tiến hóa của nhân loại. Kiểu như đã có lần ông Nguyễn Chí Thiện bóng gió… Từ vượn lên người mất mấy triệu năm. Từ người xuống vượn mất bao năm? Thật ra có cần gì đợi tới bao năm. Liền-tức-thì. Ai đã sống ở miền Nam sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 hẳn là không cần gì phải đợi.

 

Không phải đơn thuần là sự thiếu thốn vật chất. Mà chính là trên bình diện tinh thần, tôi không chấp nhận sự thay đổi đó. Những người mới cướp được chính quyền đã moi móc hết mọi thủ đoạn để chèn ép, xua đẩy người miền Nam xuống loại công-dân-hạng-nhì, với chủ trương kỳ thị hẹp hòi không ngoài mục đích trả thù nhỏ nhen của họ. Cuộc trả thù bất nhân, hậu quả của một cuộc chiến vô đạo!

 

Dĩ nhiên, sau một cuộc thay đổi chế độ, không ai đợi phải được ân cần đối đãi. Người miền Nam mà không bị lùa như từng bầy súc vật bị lùa vào lò sát sinh khi Khờ-me đỏ tiến vào Nam Vang đã là phước đức. Tuy nhiên nếu không bị xử tử bằng mũi súng lục kê vào màng tang mà bị… cải tạo để xây-dựng-con-người-mới-xã-hội-chủ-nghĩa kiểu như ở miền Nam buổi đó thì nói thiệt có khác gì cái lối mấy ông vua Tàu hồi xưa xử người ta theo lối lăng trì, xẻo từng miếng thịt cho chết dần chết mòn, vừa chết vừa đau nhức…

 

Chẳng vậy mà hồi đó, người ta hay nói cái cột đèn mà có chưn chắc cũng… vượt biên. Biết bao nhiêu oan trái đã ứ đầy nước mắt. Nhưng thôi, chuyện qua rồi. Nhắc hoài người ta biểu mình thù dai. Nhưng mà…

 

Chỉ có điều, ngoài cái chuyện tù tội, đói ăn… Cái chuyện làm tôi… “khủng” (!) nhất là thứ ngôn ngữ nói và viết của quý vị đi làm cách mạng từ rừng núi sình lầy của miền Nam hay từ bờ phia bắc của con sông Bến Hải trào qua!

 

Rõ ràng là sau khi xử tử nền dân chủ non yểu của miền Nam bằng đủ thứ súng đạn, dao găm, mìn bẫy, thừa-thắng-xông-lên, họ xài luôn thứ vũ khí tàn độc không kém gì mấy con virus 19 bây giờ. Nó không nổ giòn như AK 47, không nổ tung như hỏa tiễn 122 ly, mà nó nổ từ từ như thứ mìn nổ chậm. Đó là thứ chữ và nghĩa phát sinh từ những xưởng đúc người đồng bộ, những khuôn chế người đồng dạng, đóng khung suy nghĩ, triệt tiêu sáng tạo, che mắt bít tai bịt miệng hai mươi mốt năm miền Bắc… nay được dịp phá rào cho đại dịch cộng sản lây tràn về Nam.

 

Ngoài thứ chữ nghĩa với ẩn ý chính trị tráo trở nhằm để lừa gạt: “xâm lược” thì nói trớ lại là “giải phỏng”, “bỏ tù” thì lấp liếm là “cải tạo”, “tẩy não” thì gạt gẫm là “học tập”, “giựt nhà giựt của” thì dối trá là “quản lý”, “thưa gởi” mà làm như quen rình mò nhau nên kêu là “báo cáo”, “cướp giựt tài sản” thì mồm loa mép giải là “cải tạo công thương nghiệp”… còn hằng hà sa số chữ nghĩa ngây ngô không kém gì bản mặt ngây ngô của mấy chú cán binh trước phố xá Sài-Gòn bữa “đại thắng-mùa-xuân”! Kể ra sao cho hết, thứ chữ Việt mới và lạ.

 

Mà quái lạ thiệt. “Hải cảng” coi bộ chắc sợ bị Bắc-thuộc-lần-thứ-ba nên sửa là “cửa khẩu” bất kể từ “khẩu” – gốc Hán-Việt đã có nghĩa là cửa! Sao không nói là “cửa-cửa” cho nó đúng điệu… cà lăm luôn. Rồi còn cái “vụ” và cái “việc” nữa, coi bộ sợ chưa rõ nghĩa tới “đỉnh-điểm” nên lắp ba lắp bắp là “vụ việc” cho chắc ăn hơn… Lắm khi lại còn lên mặt, cãi lời ông bà xưa đã dạy… dốt hổng chịu dựa cột mà nghe, lại cứ vênh váo nói chữ… kiểu như phó-tiến-sĩ với lại tiến-sĩ cả nước. Ôi thôi kể ra sao cho hết!

 

“Ghi tên”, làm như nghe ra giống… ghi tên quá nên nâng cấp lên là “đăng ký”. Rồi “liên hệ”, “giao lưu”, “sự cố”, “nhất trí”…  Rồi “học vị”, rồi “xử lý”, rồi “bồi dưỡng”, “bảo quản”, “tư duy”, v.v… và v.v… Nghe mà tưởng chừng cả nước đều là “viện sĩ” của một viện Hàn Lâm… “hoành tráng”! Nhất là cái lối xài chữ rổn rảng như phường tuồng, cứ làm nhớ đến truyện ngụ ngôn Con ếch muốn làm con bò của La Fontaine, “Đồng chí nhà bếp nấu cơm “khẩn trương” (!?) lên nhé”! “Tranh thủ” nhanh lên, đói lắm rồi đấy”. V.v… và v.v…  

 

Nghe mà rụng rời tưởng đâu là sơn hà tới hồi nguy biến! Vậy mà đã hết đâu. Còn nữa, còn thứ chữ nửa nạc nửa mỡ, cái nhà căn nhà thành ra “căn hộ” (khi ghép chữ thì dùng cùng một loại chữ, nôm với nôm, Hán Việt với Hán Việt, không ai đem râu ông nọ cắm bên cằm bà kia), lính thủy quân lục chiến thì để cho đúng chủ trương trong-sáng-hóa-tiếng-Việt (?!) thì gọi là “lính thủy đánh bộ”, phi công thì gọi là “chiến sĩ lái”, “giặc lái”, đàn bà con gái mà đi lính thì gọi là “chiến sĩ gái” khiến lắm khi vì ù ù cạc cạc tôi cứ tưởng là… làm gái, trực thăng thì gọi là “máy bay lên thẳng”, hai chữ kép “cương liệu” với “nhu liệu’” trong ngành tin học nghe tư sản quá hay sao không biết mà đổi lại là “phần cứng-phần mềm”, làm cứ tưởng là đang nói tới mấy cái phim sex! Kể cả nhà bảo sanh cũng được gọi cực kỳ hiện-thực-xã-hội-chủ-nghĩa là “nhà đẻ”! Hết ý!

 

Vốn dĩ là một thằng mê chữ – mê chớ không phải là giỏi – thiệt tình mà nói tôi buồn hết nói, kiểu như Thúy Kiều khi ngồi buồn trông ra cửa biển chiều hôm mà ngó bốn bên, bên nào như bên nấy cũng buồn hiu. Xui cái là nhằm ngay lúc ba-dòng-thác-cách-mạng đang nổ̉i lên ầm ĩ theo như tài liệu “đảng ta” đã dạy, nên vểnh tai ra hướng nào cũng nghe ầm ĩ tiếng nhí nhố. Không lúc nào là không nghe, không khi nào là không dội vào tai những chữ những nghĩa cứ như đóng đinh vào tai.

 

Số là sau khi coi như trả xong món-nợ-máu-với-nhân-dân vì cái tội… đi dạy học trò học chuyện nghĩa nhân, được cách-mạng-khoan-hồng (?) thả ra, tôi tưởng mình đã hết bị tra tấn với thứ chữ nghĩa kêu như bò rống mà rỗng như cái thùng không do đám quản giáo với lại quản huấn thi nhau lải nhải khi còn trong tù. Ai dè, vừa thoát ra khỏi cuộc tra tấn thính giác này lại lọt vào trận tra tấn khác. Lần này cũng huyênh hoang không kém với mớ chữ nghĩa quái lạ, câu cú trục trặc, không biết được moi móc từ cái kho ngữ vựng văn phạm nào mà lại không kém phần… vô nghĩa, vô lý và vô duyên quá mạng.

 

Hẳn là sẵn đà… “giải phóng dân tộc”, bèn giải phóng luôn mớ chữ nghĩa vốn đã thành khuôn phép. Danh từ bị kéo xuống làm động từ, động từ bị đẩy lên làm chủ từ… ngữ vựng ngữ pháp… gì cũng bất kể. Mà kể chi cho mệt. Xài sao cũng được, trong triều ngoài nội gì cũng “tầm cỡ” như nhau!

 

Ôi, chữ quốc ngữ của tôi! Thứ chữ đã sinh ra từ ước vọng thăng hoa của một dân tộc vốn đã quá điêu linh qua nhiều ngàn năm dâu bể, dẫu vậy đã trưởng thành và hoàn hảo không kém bất cứ một thứ chữ nghĩa văn minh nào khác.

 

Những bậc tổ tiên uyên bác của tôi, đã vắt đầu vắt óc, nắn nót, chắt lọc, sắp xếp từng thanh âm, từng dấu phẩy dấu chấm… để tiếng nói câu chữ càng lúc càng uyển chuyển, càng súc tích, càng trầm bổng… Những bậc tổ tiên tài hoa của tôi đã biến cái mớ chữ không lấy gì làm trơn tru cho lắm lúc khởi đầu trở nên trong sáng, thông suốt, lả lướt không thua gì những con sông nước ngọt quê tôi chảy xuôi một dòng ra biển.

 

Họ đã làm thơ, đã viết truyện, đã diễn thuyết, đã dạy dỗ… Từ khi Phan Khôi kéo dài ra cho con-mắt-còn-có-đuôi cho đến năm 1975, ngoại trừ một lúc yên bình ngắn như một cái chớp mắt, thời gian còn lại toàn là chiến tranh. Giặc giã liên miên, từ rừng núi kéo về đồng bằng rồi lan vô thành phố. Vậy mà giữa khi bom đạn mù trời vẫn lượn lờ những câu văn câu thơ đẹp tuyệt vời. Thử đọc lại mấy câu thơ của Quang Dũng những năm 40:

 

Khói thuốc xanh dòng khơi lối xưa

Đêm đêm sông Đáy lạnh đôi bờ

Thoáng hiện em về trong đáy cốc

Nói cười như chuyện một đêm mơ.

 

Chữ nghĩa, thi ảnh, vần điệu… mọi thứ đẹp lung linh như chuyện Trang Sinh nằm mộng.

 

Hay vài câu thơ của Nguyên Sa những năm 60:

 

“Người dáng dấp bơ vơ của bầu trời hải đảo

Tóc bồng bềnh trên nếp trán ưu tư

Những ngón tay dài ướm trọn mấy nghìn thu

Mà men sáng trong xanh mầu trăng vời vợ”.

 

Thơ là thành tựu tuyệt vời của những vận động liên tục nhằm thăng hoa một ngôn ngữ vốn đã lắm lần bị chèn ép.

 

Hay Tô Thùy Yên những năm 70:

 

“Những người thuở trước bây giờ lạc

Trong dã sử nào như bóng mây,

Trong trí nhớ nào như giọng hát

Hỡi ôi, trời đất lạnh tình thay!”.

 

Thơ biểu hiện cho sự trưởng thành của chữ nghĩa, phong phú và xảo diệu, vượt bỏ ranh giới hạn hẹp, thô nhám của vật chất (cụ thể) để vươn tới cõi lung linh của khái niệm trừu tượng (tinh thần).

 

Hai mươi tám chữ thôi mà thơ xô người ta té ngửa vào cõi minh triết diệu kỳ của mông lung Lão Đam thiên-địa-bất-nhân-dĩ-vạn-vật-vi-sô-cẩu.

 

Cả một thế giới hoa lệ của chữ và nghĩa đã được dựng lên với tâm ý chân thành và tình yêu dân tộc của bao lớp người đi trước, dù có học tàu học tây vẫn một lòng chung thủy với nước non, để ra sức điển chế một ngôn ngữ nôm na mộc mạc thành một ngôn ngữ văn chương giàu có và tinh tế.

 

Đọc thử một câu văn của bất kỳ một nhà văn nào ở miền Nam nước Việt trước năm 75 coi, nếu không hoa mỹ thì cũng trong sáng, dù giản dị vẫn rõ nghĩa, cú pháp chững chạc rạch ròi. Chủ từ, động từ, tính từ, túc từ, trạng từ, giới từ… đâu đó phân minh, rạch ròi, rõ ràng như đinh đóng cột, chưa kể những thủ pháp mỹ từ, chính xác mà lả lướt không khác gì người họa sĩ vẫy cọ lên tranh mà đường nét và màu sắc hè nhau thoát bay ra ngoài khung gỗ.

 

Thử đọc vài câu tùy bút của Đinh Hùng về một mùa thu dĩ vãng.

 

“… Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này, nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ. Nắng ở đây vẫn là nắng ấm ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước … Tôi đem lòng về để gặp mùa thu thương nhớ cũ và may cũng thấy thu về để nước hồ xanh…”.

 

Trời! Văn chương gì mà chữ nghĩa lóng lánh như ngàn đốm sao đêm trên nền trời đen mượt.

 

Đọc thêm chút Mai Thảo trong Chuyến tàu trên sông Hồng:

 

“…Hình dung thấy con tàu đó trên con sông đó. Con sông Hồng. Như dòng máu đỏ tươi chảy băng băng khắp vùng trí nhớ bâng khuâng. Con sông như một đời sống vĩ đại. Bên này bãi lở. Bên kia bãi bồi. Tiếng sóng giữa dòng trùng trùng ca hát. Tiếng sóng dập cái tiếng dập mênh mông đầu ghềnh nơi tả ngạn bị hút xoáy mải miết, nước xôn xao róc rách đẩy lùi mãi những bãi dâu và những nương khoai vào những chân tre cũ. Nơi tả ngạn, ngọn sóng hiền lành mùa lũ này qua mùa lũ khác. Đứa nhỏ trôi theo con tàu trên dòng trường giang hùng vĩ chợt nhớ tới những con sông làng thon mềm dải lụa có trâu đầm từng đàn dưới bóng đa nghiêng, có những chiếc cầu đá dẫn tới một phiên chợ sớm đầu đình, có những cầu gạch mở vào những cái ngõ lang thang mất hút, có cỏ gà trên gò đống, cỏ ống trên mồ mả, có những cầu tre tay vịn tròng trành, đêm đêm có ánh đom đóm lập lòe, có ánh trăng mướt chở tới những khoảng sân gạch Bát Tràng nồng ấm hương lúa đầu mùa”.

 

Hay Nguyễn Đình Toàn trong Đêm lãng quên:

 

“… Tôi đã nghe thấy tất cả cái hắt hiu tàn lạnh của một đời người, của những đêm mải mê trong các cuộc truy hoan, đỏ đen tích lại trong máu huyết, bây giờ đang muốn tắt đi cái dư vị cuối cùng, tắt đi cái chút lửa còn sót mỗi khi cơn bệnh bớt hành hạ, cho cái cảm tưởng, ta vẫn còn chân tay vẫn còn đời sống… Những buổi xế chiều, những sớm âm u, những giờ phút đời sống đã tự giấu mặt, đã lẩn khuất, đã lẫn lộn, tuổi già như một cơn nước lụt đã dâng lên tới ngang ngực, hơi thở đã khó khăn, những thú vui đã bị dìm cả xuống vực thẳm phiền muộn, những nỗi phiền muộn không tên…”.

 

Mà thật ra, cũng không cần phải nhắc chi đến những nhà văn nhà thơ tên tuổi. Ngay cả một người học trò cấp trung học ở miền Nam thời đó cũng thừa khả năng viết thành câu đúng chính tả, văn phạm. Và rõ nghĩa như một cộng một là hai.

 

Viết gì thì viết, tả cảnh tả tình, tả chân hay lãng mạn, viết đơn xin việc hay viết thư xin tiền kể cả khi rộn ràng cưới hỏi hay ngậm ngùi cáo phó, câu văn câu thơ ở miền Nam trước khi cháy rụi vì ngọn lửa phần thư láo lếu đã rất trong sáng, mạch lạc, cú pháp rõ ràng chặt chẽ. Chẳng bù từ đó đến nay…

 

Từ đó đến nay, chẳng những mạng người bị cách cái mạng thôi mà chữ nghĩa cũng chạy không khỏi nạn bị tẩy não đến độ dở dở ương ương.

 

Kể cả khi đã chạy bán mạng qua tới xứ người, những năm 80, chưa kịp hú hồn hú vía, tôi lại tá hỏa khi bất chợt nghe dội lại từ bên kia biển lớn mấy cái tiếng Việt… lạ hoắc, lạ tới nỗi hai lỗ tai lại lùng bùng: ùn tắc, quá tải, cười té ghế, siêu sao, bức xúc, tiền bo, fan cuồng… và … và … kể cả mớ chữ cũ nhưng đã được cải tạo rốt ráo để thích hợp với con-người-mới-xã-hội-chủ-nghĩa (!): giải phóng mặt bằng, vùng sâu vùng xa…

 

Muốn đúng điệu, nói phải có chứng, lẽ ra tôi phải kê ra đây bảng liệt kê dầy mo đó. Nhưng khổ nỗi, tôi vốn dị ứng với những gì trái tai gai mắt nên nghe thấy rồi là quên rồi, bây giờ mà cố nhớ lại chắc không khác gì… tự tra tấn. Nên đành… Dẫu vậy, cũng xin kê ra đây một mẩu tin… bất ngờ rồi vô ý… để lọt vô mắt và bảo đảm trăm phần là có thiệt chớ chẳng phải fake news thời thượng. Tin như vầy:

 

Chuyên gia dịch tễ nói gì về số ca mắc liên tục giảm?

Báo Nhân dân điện tử ngày thứ hai, 06/04/2020, 09:46:31

 

Tin được in đậm theo mẫu chữ Helvetica cỡ 18. Bảo đảm không thêm không bớt nửa nét nửa chấm. Đó là bản tin của cơ quan ngôn luận chính thức của cái đảng đang cầm quyền tối thượng ở nơi quê hương khốn khổ của tôi.

 

Đọc rồi, muốn bắt chước một cách nói liệu thường nghe trên miệng đời gần đây. Hiểu chết liền!

 

Sẵn trớn tới luôn cho đỡ phần ấm ức. Đã có lần nào đó, trên cái vùng đất đầy những cung-văn-hóa mà nhà nước đã hô hào xây cất, có một tấm bảng hiệu của nhà nước (lại nhà nước) được dựng lên bên đường để dạy dỗ dân. Như sau:

 

“Một gia đình hai con vợ

chồng hạnh phúc”.

 

Nhà nước mà viết văn chấm câu xuống hàng kiểu này, lỡ đàn ông con trai trên trái đất đang lúc nhúc người này đổ xô về xin tị nạn rồi lấy đâu mà gả bán cho đủ sau khi đã gả bán qua Đài Loan, Đại Hàn! Hết ý!

 

Đành rằng ai cũng biết, ngôn ngữ cũng có đời sống, có sinh có tử. Không ai cản được, theo dòng đời sẽ có những chữ biến mất, những chữ mới sinh ra để thay thế hay để đáp ứng với những nhu cầu mới. Tuy nhiên, y như trong một xã hội, đứa nhỏ được sinh ra trong một gia đình có học thức vẫn thừa hưởng được chút gì vốn liếng của cha mẹ nên ít nữa hàng xóm làng giềng cũng đỡ phần bị phiền phức. Đằng này…!

 

Lại nữa, thói thường, người ta vẫn phân biệt hai loại ngôn ngữ: nói và viết. Khi nói thì ba hoa chích chòe sao cũng không đến nỗi, ba cái tiếng lóng, tiếng địa phương, tiếng lề đường xã hội đen xã hội đỏ… gì cứ mặc tình. Vui thôi mà. Tuy nhiên, khi viết, mỗi loại ngôn ngữ, Tây Tàu Anh Mỹ và… Việt Nam v.v… đều có khuôn phép riêng của nó gọi là văn phạm. Văn phạm chính là cái khung chung làm mẫu mực để già trẻ bé lớn đàn ông đàn bà, thuận thảo hay chống đối, bán-vé-số hay đại gia… gì gì khi đọc đều hiểu rõ chung một ý. Mười người, hay mười vạn người đều thụ nhận như nhau… nếu biết đọc biết viết.

 

Đằng này… Lại đằng này!

 

Tại vậy đó, mà lâu rồi, lâu lắm rồi, tự trong tôi có một phản ứng vô thức xúi tôi thà làm người vô tri hơn là hữu tri mà tri toàn chuyện… dị hợm.

 

Nhưng mà… nói thì nói vậy chớ lắm lúc nghĩ lại thấy buồn lắm!

 

Cái thứ ngôn ngữ này, nó vốn “lây lan”(?!) không thua gì mấy con virus thời nay. Một người dùng, rồi hai ba, rồi năm bảy… Có người nghe rồi muốn giễu cợt, nói theo cho vui, vui rồi quen miệng lúc nào không hay. Sẽ đến lúc, y như mọi loài vi khuẩn độc hại, nó ẩn núp trong cõi vô thức. Rồi dù không chủ ý, chữ nghĩa biến dạng, phát ra…

 

Mười mươi người. Chục. Trăm. Ngàn. Cả đến không ít người bỏ công bỏ của chạy bán mạng, qua rừng qua biển, núp bóng tá túc xứ người. Vậy mà khi tụm năm tụm ba, có dịp vui miệng giễu qua giỡn lại, nói năng theo kiểu quê nhà… riết rồi một lúc nào đó, vô tình phát ngôn không khác gì người đang hoạnh họe ở đó.

 

Kể cả một số quý vị đã tự nguyện mang trọng trách đối với mấy cái cộng đồng người Việt lưu vong, nhảy ra làm báo, cũng vô tình – hay hữu ý (!?) – không biết mà lắm khi bê nguyên văn một bản tin được viết bằng thứ chữ Việt không lấy gì làm đúng văn phạm cho lắm ở bên đó mà in lên giấy trắng mực đen ở bên này! Hay trên cái không gian ảo gọi là báo… mạng!

 

Sao không kiên nhẫn thêm một chút, bỏ ra thêm năm ba phút, sửa chữ chấm câu cho đúng lề luật, cho bõ công đã ê a tập đánh vần từ năm lên ba lên bảy, đã gò gẫm tập chấm câu từ tuổi chín, mười… mà mấy ông thầy bà cô già đã còng lưng sửa nắn cho mình! Hỡi ôi!

 

Nhưng mà rồi, nói thì vậy, không có nghĩa là tôi dứt tình với quê hương. Tôi thương lắm chớ cái xứ sở khốn đốn còn đang giẫy giụa trong bàn tay thô bạo của đám cầm quyền… chẳng những thiếu chữ mà còn thiếu nghĩa với dân tộc, chỉ có biết hết lòng đem bán nước đợ dân.

 

Tôi đã cố quên. Chẳng qua như một thứ… giận lẫy.

 

Cao Vị Khanh.

 

*  *  *

 

Xem bài cùng một chủ đề: click vào đây

Xem trang Kiến thức, tài liệu: click vào đây
Xem bài trang Tạp văn tùy bút: click vào đây
Trở về trang chính: http://www.nuiansongtra.net

 


Nếu độc giả, đồng hương, thân hữu muốn: 

* Liên-lạc với Ban Điều Hành hay webmaster 
* Gởi các sáng tác, tài liệu, hình-ảnh... để đăng 
* Cần bản copy tài liệu, hình, bài...trên trang web:

Xin gởi email về: quangngai@nuiansongtra.net 
hay: nuiansongtra1941@gmail.com

*  *  *

Copyright by authors & Website Nui An Song Tra - 2006


Created by Hiep Nguyen
log in | ghi danh