Diễn đàn của người dân Quảng Ngãi
giới thiệu | liên lạc | lưu niệm

 April 03, 2025
Trang đầu Hình ảnh, sinh hoạt QN:Đất nước/con người Liên trường Quảng Ngãi Biên khảo Hải Quân HQ.VNCH HQ.Thế giới Kiến thức, tài liệu Y học & đời sống Phiếm luận Văn học Tạp văn, tùy bút Cổ văn thơ văn Kim văn thơ văn Giải trí Nhạc Trang Anh ngữ Trang thanh niên Linh tinh Tác giả Nhắn tin, tìm người

  Đất nước, con người
HỌC SOẠN VỚI TIỀU PHU THÁN
PHƯƠNG-ĐÌNH
Các bài liên quan:
    VÀI Ý NGHĨ VỀ BÀI VĂN CỦA ÔNG HỌC SOẠN
    ĐÍNH CHÍNH VỀ TIỂU SỬ VÀ BÀI THƠ NỔI TIẾNG CỦA HỌC SOẠN


Lời Giới-thiệu:

Học Soạn là một nhà thơ tên tuổi của miền núi Ấn sông Trà trong vài ba thập niên đầu của thế kỷ trước. Tương truyền Ông sáng-tác nhiều thơ. Rất tiếc, phần lớn bị thất lạc, nay chỉ còn lại dăm bài, trong đó có một bài nổi tiếng nhất, dài trên 80 câu thơ mà độc giả sẽ thấy trong phần sau.

Ban Điều Hành giới thiệu ba bài viết của 3 tác giả lần lượt sẽ được đăng sau đây liên quan đến bài thơ nầy. Đây là bài thứ nhất.

Chúng tôi hy-vọng quý độc giả có thể suy-luận để tìm thấy những điểm gần sự thật nhất về tiểu-sử tác-giả và nhan đề của bài thơ nổi tiếng tiên dẫn.


Ban Điều Hành
www.nuiansongtra.net


- - - - - - - - - - - -

Hương Thơ Miền Ấn Trà:

HỌC SOẠN VỚI TIỀU PHU THÁN
Bài viết của Phương Đình LƯƠNG THẾ LỊCH


Học Soạn (1890-1944?) tên thật Phan Soạn, quán thôn Phú Nhiêu (nay là thôn Phú Văn, xã Nghĩa Trung) huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi.

Ông tư chất thông minh, học giỏi, biết làm thơ rất sớm nhưng không chịu đi thi. Ngoài Ngũ Kinh, Tứ Thư, ông còn sành cả về tướng mệnh, tử vi, lý số... Tâm hồn phóng dật, tươi trẻ, thích dạo chơi sơn thủy, giao du với hạng đỗ đạt hoặc có tinh thần yêu nước, bài Pháp trong tỉnh. Trong số bằng hữu tương đắc đương thời được biết có ông Ấm Bảy (dòng họ Trương Quang ở Mỹ Khê), ông hương cống hiệu Duy Cần, ông Giáo Kế đều ở thôn Hiệp Phổ, huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.

Học Soạn sở trường lối thơ lục bát đượm giọng điệu ca dao qua những bài hò giã gạo, hò đập đất, dện nền nhà, hò tát nước gàu dai... được phổ truyền ở địa phương theo lối nam nữ vấn đáp, hay ngược lại, đã phong phú hóa thể loại thơ ca bình dân trong vùng.

Ngoài ra, phong cách tài hoa của Học Soạn còn được thể hiện qua các lối thơ Đường luật, lục bát, song thất lục bát, hát nói hay lối thơ trường đoản hợp thể, như trường hợp bài “Tiều Phu Thán” dưới đây. Dù bất cứ ở thể loại nào, Học Soạn thường sử dụng ngôn ngữ bình dân tại địa phương một cách vừa tài tình, vừa dí dỏm, khiến thơ ông có một phong thái riêng.

Tiếc rằng thơ ông hầu hết chỉ được truyền khẩu để ngâm vịnh trong đám bạn bè, tao nhân mặc khách mà không được ghi chép lại, cho nên đến nay hầu hết đã thất truyền. Ngay cả trong gia tộc họ Phan hiện ở thôn Phú Văn, Tư Nghĩa, kể con cháu cụ Tú Phan Quang Quỳnh (Tú Chanh) cũng không còn giữ được.

Theo Phạm Trung Việt trong ”Non Nước Xứ Quảng Tân Biên”, hiện nay chỉ còn lưu truyền được mấy bài:

- Chó ăn thịt chó,
- Con bọ hung,
- Chó mắc lẹo.

Tiếc thay!

TIỀU PHU THÁN

Con bóng ác đã xế về bên chót núi,
Phận lão tiều còn than củi ở đầu non.
Bước gập ghềnh đường sạn đá chon von,
Vợ chồng lão hãy còn ngồi trong xó hố.
Vợ than thở: “Cái thân ơi! Ta quá khổ,
Cái chi vầy, xấu hổ với phường dinh (1).
Ai có: sớm lui cui trong xó núi một mình,
Bộ lem luốc không ra hình chi cả thảy.
Chồng một quảy, vợ quảy theo một quảy (2),
Rất nặng nề đà năm sáu bảy năm nay.
Lấm lui thui, thui thủi cả bàn tay,
Củi thời có, mà dép giày thời chẳng có!”
Chồng khi ấy ngoắt tay kéo lại dỗ:
”Ráng mà theo đừng để đổ mấy ki than” (3).
Vợ năn nỉ: “Chàng hỡi là chàng,
Đường thế lộ nghênh ngang đà biết mấy!
Sao chàng chẳng đi theo làm vầy vậy,
Trước vinh hoa, sau lấy bạc tiêu chơi!
Uốn lưỡi mềm mà láo xược với người đời,
Đã sung sướng còn hơi ngoe ngoắt nữa.
Nghĩ như rứa, sao chàng không muốn rứa (4),
Núp trong rừng, dụ dựa chẳng đua bơi.
Nợ nần gì trốn tránh suốt đời,
Con khốn đốn mà vợ thời than đói rách!”?
Chồng khi ấy mới mở lời bộc bạch:
“Cuộc đời chừ đây ráo riết cạnh tranh.
Kiếp con người là kiếp phù sanh,
Lợi cũng rứa mà danh thôi cũng rứa.
Cơm hẩm hút ngày đôi ba bữa,
Ních cho no mà tắm rửa bụi hồng trần.
Tội tình gì mà đày đọa cái tấm thân,
Sớm qua Sở, tối về Tần,
Mắt không nhắm, ngó chừng túi bạc.
Công danh ấy nghĩ thôi đành mặc xác,
Kẻ bôn ba, người nhàn lạc thú nào hơn?
Nói với người, người chẳng biết ơn,
Ngồi với bạn, bạn hằng giữ thế.
Công danh ấy ta đâu nào có kể,
Gạo nước trong, nồi cơm ghế cũng là nhàn (6).
Sớm mai đi bán ít ki than,
Chiều về núi nghênh ngang một cõi.
Điều phải trái, khen chê thôi đấm bỏi,
Thôi khỏi vòng theo dõi bước xiên xiên.
Khỏi đi theo luồn cúi dưới cường quyền,
Ta chẳng dại, chẳng điên đâu mà phải dạy.
Mưu Hàn Tín sự nghiệp gì để lại,
Kế Khổng Minh công ấy được bao lâu?
Xét xưa nay mấy bực công hầu,
Danh vọng ấy tốt gì đây mà ao ước.
Chi cho bằng:
Củi mình đốt, quạt than ra sáng rực,
Qua thu rồi, ai cũng chực mà mua.
Gặp cơn hàn, chẳng kể giá hơn thua,
Tiền bạc nẫu kéo ùa nài nỉ đổi.
Vậy có câu rằng:
Thiên tải minh lương hoàng hữu hội,
Nhứt hồ phong nguyệt lạc trường xuân” (7).
Vợ nghe rồi, ngồi dửng dừng dưng,
Cầm chén cúc tay nâng từ tạ quá!
Chồng bắt đốc, vỗ tay cười ha hả. (8)
Mừng cho ta: “Năng hóa phụ nhân ngu!
Cứu dân hàn ta cứ việc lo,
Lo sửa soạn chỉnh tu ba cái giỏ.
Quyết trở lại đốn cây văn cùng võ
Đem về hầm chín đỏ rực thành than,
Chờ khi nào trong nước sửa sang,
Luyện lấy sắt bền gan ra giúp chúng.
Đồ cơ khí nẫu đợi than mình hơ nóng, (9)
Thợ hóa công (?) rồi cũng tính cho ta.
Úy thôi thôi đừng kể gần xa,
Mà bỏ nghiệp ông bà ta thuở trước.
Đạo trời đất khéo xoay vần lộn ngược,
Họa thế này hết nước phải lên non.
Đoái giang sơn: cây cỏ hãy còn,
Để dạy bảo cháu con ra gánh vác...
Mãn mục giang sơn cu thị lạc,
Nhứt trường vinh nhục bất tu kinh (10).
Ngoài bốn phương bầy úy tử, bọn tham sinh,
Ai cũng muốn than mình hơ ấm lại.
Nói cho phải điều khôn cùng sự dại,
Nỡ lòng nào bạc ngãi thú yên hà!”.
Vợ nghe rồi: “Tôi biết đến già,
Tôi đâu dám tưởng cửa nhà giàu sang.
Chồng vầy đúng mực khôn ngoan!”.

MẪU GIAI THOẠI VỀ HỌC SOẠN

Hồi tôi còn theo học trường Tỉnh lỵ Quảng Ngãi (vào những năm 1939-1941), được phổ biến trong giới Nho sĩ phong lưu một bài thơ Đường luật “Tự Trào”, tương truyền là của Học Soạn. Bài thơ khá độc đáo trong cảm khái cũng như trong lối dùng từ địa phương. Xin chép ra đây:

Anh hùng lỏng bỏng bước bèo mây,
Trơ trẽn non sông dạn mặt thầy.
Bùa thuốc không hay, nhiều kẻ dụng (11).
Văn chương chẳng giỏi, ít ai tày.
Túi thơ ọc ạch khua trời đất,
Búng rượu phì phà ngấm cỏ cây.
Tri kỷ lưa thưa, đời bạc phếch,
Về thôi! Chi để lụy thân này!

PHƯƠNG ĐÌNH

Chú thích:

(1) Phường dinh hay hàng dinh: chỉ người ở thành thị, những nơi đông đúc.

(2) Quảy: một gánh, thường chỉ vật nhẹ, cồng kềnh.

(3) Ki than: giỏ đan bằng tre, lỗ to để đựng than. Nhiều ki than đổ chung vào giỏ lớn để gánh đi.

(4) Rứa: vậy. Như rứa: như vậy. Thổ ngữ thông dụng ở miền Nam Ngãi. Ví dụ: răng, chừ, mô, rứa. Có nghĩa: sao, giờ, đâu, vậy. Mần răng: làm sao.

(5) Ních: ăn mau và nhiều, không cần ăn đồ ngon, chỉ cần no bụng (tiếng tục).

(6) Cơm ghế: (cơm ghé) cơm độn bắp, khoai lang, khoai mì. Dân miền Trung, đặc biệt ở Nghệ Tĩnh, Nam Ngãi thời ấy nghèo lắm, nấu cơm thường ghế (độn) thêm các thứ hoặc ngô (bắp), hoặc các thứ củ lang, củ mì để ăn cho đủ no.

(7) Nghĩa:

câu (a): Rồi đây nghìn năm một thuở, sẽ có lúc những bậc hiền minh lương hảo hội chung nhau (minh lương: minh quân lương tể)
câu (b): Trăng trong gió mát trên một mặt hồ, vui mừng đón xuân trường cửu. Ý hai câu này: Hy vọng một thuở thanh bình, an lạc sẽ đến.

(8) Bắt đốc (ngồi vắt đốc): ngồi thẳng người, vắt bắp chân nọ lên đầu gối chân kia.

(9) Nẫu (còn viết là nẩu): họ, người ấy, bọn ấy. Nhân xưng đại từ, ngôi thứ ba. Ví dụ: Nẫu về quê nẫu, riêng mình bơ vơ.

(10) Nghĩa:
Câu (a): No mắt nhìn khắp non sông, đâu cũng là cảnh vui thú
Câu (b) Vinh nhục, nhục vinh là điều cần trải qua, ngại ngùng làm gì!

(11) Ông còn trị bệnh giúp người bằng thuốc Bắc, thuốc Nam và cúng trừ tà ma để chữa bệnh điên, bệnh tà Phạm Nhan (còn gọi là “bệnh đàng dưới” của nữ giới).


Nếu độc giả, đồng hương, thân hữu muốn: 

* Liên-lạc với Ban Điều Hành hay webmaster 
* Gởi các sáng tác, tài liệu, hình-ảnh... để đăng 
* Cần bản copy tài liệu, hình, bài...trên trang web:

Xin gởi email về: quangngai@nuiansongtra.net 
hay: nuiansongtra1941@gmail.com

*  *  *

Copyright by authors & Website Nui An Song Tra - 2006


Created by Hiep Nguyen
log in | ghi danh