Diễn đàn của người dân Quảng Ngãi
giới thiệu | liên lạc | lưu niệm

 April 03, 2025
Trang đầu Hình ảnh, sinh hoạt QN:Đất nước/con người Liên trường Quảng Ngãi Biên khảo Hải Quân HQ.VNCH HQ.Thế giới Kiến thức, tài liệu Y học & đời sống Phiếm luận Văn học Tạp văn, tùy bút Cổ văn thơ văn Kim văn thơ văn Giải trí Nhạc Trang Anh ngữ Trang thanh niên Linh tinh Tác giả Nhắn tin, tìm người

  Kiến thức, tài liệu
ĐIỆP-VỤ U-2 HAY PHÂN-ĐỘI TÌNH-BÁO 10-10 CỦA HOA-KỲ
LÊ CHÁNH THIÊM
Các bài liên quan:
    ĐẰNG SAU CHIẾN TUYẾN CỦA KẺ THÙ - CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH CỦA CIA Ở TRUNG CỘNG.
    PHI-CƠ DO-THÁM U-2
    C.I.A., ÔNG LÀ AI?
    BIẾN CỐ “VỊNH CON HEO” HAY CUỘC ĐỔ BỘ CUBA.

 

I. Dẫn nhập:

Người ta cho rằng “Nếu nói đến những phức-tạp và những rắc-rối đặc-biệt của cuộc chiến-tranh lạnh trong các thập niên sau thế chiến thứ hai, các sử gia ắt phải nghĩ đến các công-tác tình-báo của hai khối Thế-giới Tự-do và Cộng-sản”. Nếu nói đến các công tác tình-báo đã mang lại kết-quả hữu-hiệu nhất, người ta không thể không kể đến những công trạng của những phi vụ mà “Phân đội Tình-báo 10-10” của Mỹ (còn gọi là “Điệp-vụ U-2” vì họ xử dụng do-thám-cơ U-2, một phương-tiện quân-sự được kể là hiện-đại vào bật nhất thời bấy giờ và vẫn được Mỹ xử dụng đến nay cho dù Mỹ sản xuất nhiều kiểu phi cơ tối tân hơn) đã do-thám nước Nga, đã mang lại nhiều thành công đáng kể cho Mỹ nói riêng và khối thế giới tự do nói chung. Nhờ vào các kết quả do thám đó đã ngăn ngừa được một cuộc chiến khốc liệt hơn nhiều trước những âm mưu xích hóa thế giới của khối Cộng. Chúng ta đi vào tìm hiểu công tác của "điệp vụ U-2" với nội dung dưới đây.

II. Lịch sử, hoạt động:

“Phân đội Tình-báo 10-10” bí-mật này do Cơ-Quan Tình-Báo Trung-Ương Hoa Kỳ (Central Intelligence Agency, CIA) tổ-chức và điều-hành. Một trong các căn-cứ của đơn-vị nầy đóng trên một đồng bằng quạnh-hiu gần thành-phố Adana thuộc lãnh-thổ của Thổ Nhĩ Kỳ. Trong gần bốn năm trời, phân-đội tình-báo này đã thu-thập được hàng tấn tin-tức bằng phim ảnh và hàng triệu triệu chữ bằng Radar trong các chuyến bay do-thám xuyên qua không-phận thuộc nội-địa Nga-sô, nước Cộng-sản đầu-sỏ. Theo như dự trù, chương-trình nầy sẽ hoạt động lâu dài và rộng lớn, thế nhưng các kế-hoạch hoạt-động trên không-phận Nga, chính quyền Hoa-Kỳ đành bỏ dỡ vì kế-hoạch bị bại-lộ sau 4 năm hoạt động.

Phi cơ do-thám U-2


Từ các tin-tức được phân-đội này thu-thập đã giúp cho Hoa-Kỳ có những biện-pháp hữu-hiệu để đối-phó với Nga-sô và khối Cộng-sản trong suốt cuộc chiến-tranh lạnh vừa qua, đã ít nhiều góp phần vào các chiến-thắng của Hoa-Kỳ và Đồng-Minh hoặc ít ra cũng giúp cho Hoa-Kỳ biết trước để ngăn-chận các bành-trướng quân-sự của khối Cộng-sản, tránh cho nhân-loại thảm-họa chiến-tranh mà chủ thuyết bá quyền, nhuộm đỏ nhân-loại của Cộng-sản đang theo đuổi. Đến thập kỷ 90 của thế-kỷ 20, chủ-nghĩa Cộng-sản đã sụp đổ ngay từ nước chủ-chốt sau nhiều thập niên họ đi tìm “thiên-đường” phần nào cũng do các tin-tức tình-báo mà Hoa-Kỳ thu-thập được.

Các phi-vụ của Phân-đội này đã phát-giác và báo cáo về tổng-hành-dinh của CIA rất nhiều căn-cứ có chứa phi-đạn, nhiều phi-trường quân-sự, nhiều trại đóng quân, kho tàng và nhiều công-binh-xưởng của Nga-sô trong nội-đia nước Nga một cách chính-xác vào thời-kỳ đó. Từ ở cao độ 24 ngàn thước, các máy ảnh cực mạnh gắn trên phi-cơ U-2 có thể chụp chính-xác đến độ thấy rõ người dưới đất đang di-chuyển bằng xe đạp hay xe gắn máy. Còn các máy vô-tuyến trên phi-cơ có thể tìm ra các căn-cứ Radar của Nga dù được ngụy-trang kín-đáo cách mấy đi nữa và những máy quay phim ghi nhận bằng dấu hiệu có thể khám-phá được mọi hệ-thống phòng-không của Nga trong một vùng bán-kính đã được định trước trong máy ảnh. Gần như chưa bao giờ có một điệp-vụ nào lại có thể thu-thập nhiều tin-tức chính-xác, sống-động và thành-công như công-tác này của CIA. Các tin-tức này đã giúp cơ-quan CIA biết hầu-hết các hoạt-động của Nga-sô, giúp cho chính-quyền Mỹ có những biện-pháp hữu-hiệu để đối-phó kịp thời trong tình-thế đối đầu lúc đó cũng như hoạch-định những kế-hoạch lâu dài. Điệp vụ U-2 sẽ còn hoạt-động lâu dài nếu không có sự cố xảy ra khiến CIA phải chấm dứt chương-trình này, đó là phi-vụ của phi-công Powers bị Nga-sô bắn hạ và Powers bị bắt.

Khi chiếc U-2 bị bắn hạ trên đất Nga, phía Mỹ có phản ứng “như một người ăn trộm bị bắt quả tang” khiến vai-trò lãnh-đạo của Mỹ trên thế-giới bị ảnh-hưởng không ít. Thoạt đầu, chính-phủ Mỹ bịa ra một chuyện vu-vơ để chạy tội sau vài ngày ngần-ngừ, bàn tính. Nhưng rồi sau đó Tổng-thống Hoa-kỳ lúc đó là Dwight David Eisenhower đã quyết-định “xác-nhận trước dư-luận thế-giới là Mỹ đã có do-thám Nga qua vụ U-2”. Sự kinh-ngạc đến độ đau lòng ở các đồng-minh của Mỹ không phải là lời thú tội trái ngược với nguyên-tắc sơ-đẳng của ngành gián-điệp ấy mà là lời xác-nhận đó cho rằng “nước Mỹ có quyền làm như thế và sẽ tiếp-tục việc do-thám này” nếu xét thấy cần. Đồng ý trong sự hiểu ngầm là một nước có quyền tự bảo-vệ bằng cách do-thám nước khác với tất cả các phương-tiện mình có nhưng một vị nguyên-thủ quốc-gia như Tổng-Thống Mỹ thì không nên tự thú như thế trước công luận. Người ta cho rằng có lẽ đây là lúc “cái cung-cách lễ-phép giữa hai đối thủ đã hết, chả cần dùng liên-lạc ngoaiï-giao để dò-dẫm nhau nữa”? Trong điệp-vụ U-2, lời thú nhận của Tổng-thống Eisenhower đã làm tan vỡ hội-nghị thượng-đỉnh Paris ngày 14-5-1960 sau đó và đưa đến việc Thủ Tướng Nga Nikita Khrouchtchev (có bản viết Krushchev) hũy-bỏ lời mời Tổng-thống Mỹ đến thăm Nga-sô, đồng-thời gieo một sự lo ngại to lớn cho cả thế-giới là chiến tranh Nga-Mỹ sẽ xảy ra, một cuộc chiến-tranh mà mọi người cho rằng sẽ tàn khốc gấp bội nếu so với Thế chiến thứ hai và đó là việc mà mọi nước đều không muốn.

Dù sao đi nữa, các chuyến bay của điệp-vụ U-2 vẫn là một trong các thành-quả tốt đẹp nhất của CIA nói riêng và chính-quyền Mỹ nói chung trong các công-tác tình-báo mà họ đã thực-hiện từ trước đến khi đó. Trước khi bí-mật của vụ U-2 bị phơi bày, các tay tổ gián-điệp của Anh, Pháp đã tỏ ý ghen-tỵ về cái phương-tiện do-thám đắt giá này của Mỹ khi Anh, Pháp còn là đồng-minh của Mỹ để chống lại khối Đỏ. Một chuyên-gia Anh đã nói với giám-đốc CIA lúc đó là ông Allen Dulles như sau:
-“Chúng tôi không bao giờ có nổi cái phương-tiện do-thám này. Những phi-vụ của U-2 quả là một công-tác tình-báo dựa trên sự sản-xuất hàng loạt”.

III. Những chi tiết cần biết về do-thám-cơ U-2:

Sau khi Nga phóng thành-công phi-thuyền Sputnik (1957), người Mỹ cảm thấy bị “lép vế” về các hoạt động trong không gian và cảm thấy lo sợ sẽ bị đối phương tấn-công. Năm 1959, Fidel Castro liên hiệp với Nga trong muu toan đặt các hỏa-tiễn trên đất Cuba nhắm vào nước Mỹ. Cũng trong năm này, Thủ Tướng Nga Nikita Khrouchtchev thăm nước Mỹ và yêu-cầu Mỹ rút khỏi Tây Bá-Linh. Một chương-trình dự trù, vào tháng 5-1960 sẽ bàn bạc về vấn đề Bá-Linh cùng vũ-khí hạt-nhân. Trong chương-trình nầy, Tổng Thống Mỹ Eisenhower đưa ra đề nghị “mở ngỏ không phận” (open skies) cho các máy bay thám-thính bay trên không phận mọi quốc gia để chắc-chắn rằng không ai “chuẩn-bị chiến-tranh”. Dĩ-nhiên Khrouchtchev bất đồng nhưng cho dù Nga từ-chối, phía Mỹ vẫn cứ tiến hành.

Lịch-sử của phân-đội Tình-báo 10-10 bắt đầu từ năm 1953 khi hãng chế-tạo phi-cơ Lockheed Martin Aeronautical Systems Company của Hoa-Kỳ yêu-cầu các kỹ-sư Mỹ nghiên-cứu để chế-tạo một loại phi-cơ bay xa hơn, cao hơn loại chiến-đấu cơ F-104 Starfighter đã có thời đó. Tháng 3 năm 1953, kỹ-sư William Lamar lập đồ-án cho chương-trình, đến cuối năm hoàn-tất để đến ngày 18-5-1954 giao lại cho ông John Seaberg xem xét lại. Tháng 11 cùng năm, giám-đốc CIA là Allen Dulles diện kiến Tổng-thống Eisenhower, ký nhận số tiền triệu USD để đặt 20 chiếc U-2 đầu. Đây là một số tiền đáng kể vào thời bầy giờ. Ngày 2-12-1954, một toán gồm 12 kỹ-sư dưới sự điều hành của Kỹ-sư hàng-không Kelly Johnson đảm-nhận việc vẽ kiểu. Họ đã dốc tâm nghiên-cứu và đã hoàn-thành việc sáng-chế ra chiếc máy bay U-2. Đây là loại máy bay thám-thính cao độ (high-altitude reconnaissance) có thể lượn (tắt máy nhưng phi cơ vẫn bay), gắn động-cơ phản-lực; đôi cánh rất nhẹ mặc-dù trọng-lượng của đôi cánh xem như là của cả máy bay có chở đầy-đủ nhiên-liệu. Để cho khi bay được cân bằng, mỗi đầu cánh có gắn thêm một bánh xe hạ cánh. Ngày 15-7-1955, chiếc U-2A đầu tiên hoàn tất và Tony Le Vier là Kỹ-sư phi công của Lockheed là người bay thử đầu tiên. U-2A là kiểu đầu tiên của thế-hệ U-2, Tháng 3-1960 ra đời kiểu U-2D, ngày 2-3-1964 kiểu U-2G ra đời, tháng 12 cùng năm là kiểu U-2F. Kiểu mới nhất là U-2 S.
 

Phi cơ U-2 khi ở phi-trường, với 2 hệ thống bánh xe ở 2 cánh.


Máy bay U-2S có động cơ General Electric F-118-101 với sức đẩy 17,000 pounds; chiều dài 63 feet (19.2 m); chiều cao 16 feet (4.8m); sải cánh (từ đầu bên này sang đầu bên kia cánh) rộng 105 ft (32 m); vận tốc 475 dặm một giờ (Mach 0.58); trọng tải tối đa lúc cất cánh là 40,000 pounds (18,000 kgs); có thể bay xa hơn 7,000 dặm (chưa tính lúc tắt máy để lượn cho đỡ tốn nhiên-liệu); có thể bay cao hơn 70,000 feet (21,212 m); một phi công duy nhất (hai phi-công cho loại phi cơ huấn luyện). Chiếc phi-cơ U-2 đầu tiên xuất xưởng vào tháng 8-1955, kiểu U-2R xuất xưởng năm 1967, kiểu U-2S xuất xưởng tháng 10-1994. Chiếc U-2 TR-1A gắn động-cơ turbo phản-lực J75-PW-13B với sức đẩy là 17,000 lb (75.6 kN); dài 63ft (19.2 m); sải cánh 103 ft (31.4 m); cao 16 ft (4.8 m); trọng-tải: căn-bản 10.000 lbs (4.535 kg), chở tối-đa 40,000 lb (18,144 kg); vận-tốc tối đa: 430 dặm/ giờ. Chiếc U-2 C có sải cánh 80 ft (24.4 m); dài 50 ft (15.2 m); cao 15 ft (4.6 m), trọng lượng căn bản 13,071 lb (5,929 kg).

Khi công việc chế-tạo hoàn-thành, chiếc U-2 là hiện thân cho một loại phi-cơ đặc-biệt với những đặc-tình kỹ-thuật thật hoàn-hảo. U-2 có thể bay đến cao-độ 30 ngàn thước, một độ cao lý-tưởng, bay liên tục trong 8 giờ, có thể tắt máy để lượn đi một khoảng-cách xa độ 6 ngàn cây-số để tiết-kiệm nhiên-liệu cho đủ khoảng-cách mà công-tác đòi-hỏi. Đây không phải là chuyện bình thường nếu so với các phát-minh, phát-kiến thời đó. Trước khi cất cánh, phi-công phải nghỉ-ngơi ít nhất một giờ rưỡi cho thoải-mái và để thở Oxy cho quen với 8 giờ bay liên-tiếp trên thượng-tầng khí-quyển, nơi có áp-suất không-khí thay đổi nhiều so với hạ tầng khí-quyển nên cần phải thở bằng Oxy. Trong khi đang bay, phi-công không thể ăn uống gì được vì mũ bay được gắn liền với cổ bằng một vòng li-e. Vì thế, sau mỗi phi vụ, phi-công rất mệt-mỏi và đói khát.

U-2 được chế-tạo để xử-dụng cho nhiều nhiệm-vụ. Với những máy móc tối-tân trang-bị, máy-bay U-2 có thể được sử-dụng trong các phi-vụ quan-sát đạn-đạo của các phi-đạn hay dùng trong các phi-vụ nghiên-cứu không-gian hoặc theo-dõi, tìm kiếm các vệ-tinh nhân-tạo khi vệ-tinh trở về trái đất. Nó còn được sử-dụng để xác-định các hoạt-động vô-tuyến để quan-sát các sự hỗn-loạn khí-tượng, để vẽ bản-đồ và để huấn-luyện các phi-công mới. Khi máy bay bị hư hay vì một lý-do gì buộc phải hạ cánh, trên phi-cơ có trang-bị một bộ-phận làm nổ tung phi-cơ theo lệnh của phi-công để giữ bí-mật. Phá-hủy được phi-cơ thì dù địch có bắt được phi-công cũng không tìm hiểu gì được nhiệm-vụ của loại phi-cơ này. U-2 là niềm hãnh-diện của Bộ Không-quân và chính-phủ Mỹ. Khi thấy các tính năng và công-hiệu của U-2, cơ-quan CIA chú-ý đến nó ngay vì đó là một phương-tiện lý-tưởng để hoạt-động gián-điệp vì U-2 bay cao, bay xa và trang-bị các dụng-cụ do-thám tối-tân nhất thời đó mà chỉ có Không-quân Hoa-Kỳ mới có.

Phi-đội 10-10 của CIA bắt đầu thành-lập từ năm 1956. Một nhóm 8 phi-công Mỹ được gởi tới Căn-cứ Không-quân Incirlik ở Thổ Nhĩ-Kỳ, một căn cứ ở miền Nam nuốc Thổ, gần Địa Trung Hải và Syria, Iraq. Các phi-công lẫn gia-quyến của họ được sống trong những chiếc xe nhà (roulotte) được mang từ Mỹ sang, đặt ở phía Tây căn-cứ này. Họ sống ở đó thật bí-mật suốt 4 năm liền, không hề giao-thiệp với bất cứ ai trong căn-cứ Incirlik cũng như ở ngoài. Mọi nhu-cầu cho cuộc sống của họ được cung-cấp thật đầy-đủ. Theo lý-thuyết thì họ hiện cộng-tác với Cơ-quan Quản-trị Hàng-không và Không-gian Hoa-Kỳ (NASA) trong những nhiệm-vụ khảo-cứu trên thượng-tầng không-khí. Trên sổ sách, họ là những nhân-viên của hãng Lockheed Martin Aeronautical Systems Company, được biệt-phái sang giúp cho cơ-quan NASA. Thực-tế, họ là những nhân-viên của CIA. Về lương bổng, mỗi người lãnh ,500 USD một tháng vào thời đó.

Thật ra, chính-quyền Nga đã biết các phi-vụ do-thám của những chiếc U-2 sơn màu xanh thẫm và họ đã từng phản-kháng việc xâm-nhập có tính-toán của những chiếc U-2 này nhưng chưa có bằng cớ xác-quyết và không biết đích-xác cách hoạt-động. Người Nga đặt cho U-2 tên là “nữ gián-điệp đen”. Trong tập-san Hàng-không Nga-sô vào những năm 1958-1959, Nga-sô đã nhiều lần phản-kháng nhưng phía Mỹ vẫn làm ngơ trước những lời tố-cáo không có bằng chứng này của phía Nga-sô và người Nga không làm gì được.

Vào ngày 27-4-1960, một phi-cơ vận-tải quân-sự chở các nhân-viên của phân-đội 10-10 từ Incirlik đến căn-cứ Không-quân Mỹ ở Peshawar thuộc Hồi quốc. Đã có nhiều máy bay U-2 đậu sẵn ở đấy. Sau 4 ngày chờ-đợi thời-tiết tốt, ngày 1-5-1960 họ được lệnh cất cánh. Sáng hôm đó, Francis Gary Powers, một phi-công trẻ nhận được lệnh cất cánh ở Peshawar để đến phi-trường Bodo thuộc lãnh-thổ Na-uy cách nơi đó 5,300 cây-số. Anh ta phải bay ở cao độ 24,000 thước vượt qua biển Aral, rồi Sverdlovsk, Kirovk, Arkhangelsk và Mourmansk, tất cả đều thuộc lãnh-thổ Nga. Powers từng phục-vụ tại Bodo vào năm 1958 nên anh ta rất rõ về phi-trường này. Trên chuyến bay định-mệnh này, Powers đã phải hạ cánh chiếc U-2 trên đất Nga-sô và anh ta đã bị chính-quyền Nga bắt giữ.
 

Chân dung Francis Gary Powers sau khi trở về Mỹ


Khi bị bắt, phi-công Francis Gary Powers khai báo cho nhà cầm quyền Nga về việc thượng cấp sửa-soạn cho chuyến bay của anh ta như sau:

-“Xếp tôi có đưa cho tôi một tấm bản-đồ có ghi rõ lộ-trình phải theo. Đường bay này có đi qua một vài phi-trường của Nga và ông ta hỏi tôi là có cần ghi rõ vào không. Tôi bằng lòng ghi vào và sau đó ông ta chỉ cho tôi một giàn phóng phi-đạn của Nga, đồng thời còn bảo tôi phải quan-sát thêm những vị-trí đáng nghi-ngờ khác. Ông dặn tôi rất kỹ-lưỡng là phải bay đúng lộ-trình và phải sử-dụng mọi dụng-cụ do-thám trên phi-cơ mỗi khi bay qua những vị-trí đã định trước”.

Dụng-cụ trên phi-cơ gồm có máy ảnh cực mạnh, máy ghi nhận luồng sóng điện và những máy ghi âm điện-tử do CIA trang-bị cho U-2 để thu-lượm những tin-tức khi bay qua lãnh-thổ Nga. Powers còn khai thêm:

-“Viên Đại-tá của CIA còn bảo tôi là trong trường-hợp bất-trắc tôi có thể sử-dụng tiền Nga và những đồng vàng có trong túi trên phi-cơ. Ông ta có đưa cho tôi một đồng Đô-la bằng bạc bên trong có đựng một cái ống nhỏ. Ông bảo tôi không có gì nguy-hiểm khi bay với U-2 vì không có loại phi-đạn nào của Nga có thể bắn cao 24 ngàn thước cả. Tuy-nhiên, nếu vạn nhất phải hạ cánh thì nên sử-dụng ống thuốc độc nhỏ dấu trong đồng đô-la để tự-tử còn hơn là để bị bắt và rồi sẽ bị tra-tấn”.

Powers còn được trang-bị một súng lục với ống hãm thanh và 200 viên đạn, một dao găm, một cần câu cá, một ca-nô cao-su, một bản-đồ đường-sá nước Nga, dụng-cụ để nhóm lửa và báo-hiệu, đèn pin, 2 địa-bàn, một cái cưa, lương khô, 7.500 đồng Rúp, một ít tiền vàng, nhẫn vàng, vài cái đồng-hồ đeo tay dùng để hối-lộ cho dân chúng Nga nếu khi máy bay phải hạ cánh bất-đắc-dĩ xuống đất Nga và nếu bị dân Nga bắt.


Trang cụ dành cho phi công U-2


Khi bình-minh vừa ló dạng ở thủ-đô Moscow, lúc các phu kiều-lộ đang quét dọn đường chuẩn-bị cho ngày 1-5 là ngày diễn binh hàng năm của Nga để ăn mừng và kỷ-niệm ngày thành-công của Cộng-sản là lúc Power bắt đầu lọt vào không-phận của Nga-sô. Cùng lúc đó, tại Bộ Ngoại-giao Hoa-kỳ ở Hoa-Thịnh-Đốn còn là đêm 30-4, các viên chức Bộ này còn đang họp để chuẩn-bị cho kỳ họp thượng-đỉnh Nga-Mỹ ở Paris sẽ nhóm họp trong vòng nửa tháng nữa, cuộc họp mà đã chờ đợi từ 5 năm trước đó. Lúc đó, Tổng-thống Mỹ Eisenhower cùng gia-quyến đang về nghỉ cuối tuần tại vùng Gettysburg.

Khi máy bay rời khỏi Peshawar, Powers bay cao 20 ngàn thước, vượt qua Afghanistan rồi vào không-phận Nga. Từ đó, Powers cho các máy móc do-thám hoạt-động như được chỉ-thị trước. Lý-do việc chiếc U-2 hạ cánh cho đến nay vẫn còn là điều bí-mật. Phía Nga thì cho là U-2 bị phòng-không Nga bắn hạ, phía Mỹ thì cho là phi-cơ bị trục-trặc máy-móc. Điều chắc-chắn là Mỹ đã liên-lạc với Powers trước đó và có lẽ họ đã nghe được mọi việc, ngay cả việc các khu-trục-cơ Nga đang săn đuổi Powers nữa, nếu có. Chắc-chắn là chỉ có Mỹ mới biết là Powers có bị bắn hạ hay không mà thôi bởi vì nhờ hệ-thống nghe trộm, các gián-điệp Mỹ vẫn thường theo-dõi các cuộc điện-đàm của các phi-cơ Nga, và nếu có việc Powers bị các phi-cơ Nga săn-đuổi thì các gián-điệp của Mỹ này biết ngay. Việc Nga tuyên-bố họ bắn hạ chiếc U-2, đó cũng chỉ là lời tuyên-bố vì không một bằng cớ nào được họ đưa ra ngoài những lời tuyên-bố suông. Người ta còn cho rằng nếu chiếc U-2 bay ở cao độ 24 ngàn thước thì Nga chẳng biết được, nếu có việc Powers bị bắn hạ là lúc phi cơ bị buộc phải hạ cao độ mà thôi.

Phần Powers, khi máy bay anh bắt đầu vào không-phận Nga, hệ-thống điện-báo của Mỹ phát-giác ra là các Radar Nga đã khám-phá ra chiếc U-2 khi vượt biên-giới. Đang bay, khi bay qua Sverdlovsk, một nơi cách căn-cứ xuất phát tại Thổ-Nhĩ-Kỳ 1,200 dặm Anh, đột nhiên Powers báo tin là động-cơ của chiếc U-2 bị trục-trặc khiến phi-cơ mất dần cao độ và anh định chờ cho chiếc U-2 xuống thấp một chút nữa sẽ coi lại máy-móc. Khi cao độ phi-cơ xuống còn 15 ngàn thước thì đột-ngột mọi liên-lạc với Powers bị cắt đứt.

Giới hữu-trách Mỹ cho rằng khi xuống đến cao độ ấy, Powers đụng phải các chiến-đấu cơ của Nga và chắc bị bắn hạ trong khu-vực Sverdlovsk. Từ lúc đó, họ không biết số-phận của Powers ra sao. Phía Nga đã loan-báo:

-“Đó là một vi-phạm trắng-trợn không-phận Nga với mục-đích khiêu-khích và bất-hảo nên chính-phủ Nga đã ra lệnh bắn hạ chiếc phi-cơ Mỹ này”.

Chính-quyền Nga còn cho biết thêm phi-cơ của Powers bị bắn hạ bằng một phi-đạn phòng-không của Nga ở cao-độ 24 ngàn thước vào lúc 08:53 AM ngày 1-5-1960. Đây là một tuyên-bố láo-khoét vì vào thời đó, Nga chưa có loại hỏa-tiễn nào bắn cao được như vậy.

Powers kể lại là khi ở cao độ đó (15 ngàn thước), anh ta bỗng thấy “một tia chớp màu vàng cam” thế là chiếc U-2 mất cao độ, hạ thấp dần. Anh ta cố hết sức mà chiếc ghế vẫn không bung ra, anh ta phải cạy cockpit, cởi dây belt ghế rồi nhảy ra ngoài. Dù mở, anh ta nhảy an-toàn xuống đất còn chiếc U-2 đâm xuống cánh-đồng gần Sverdlovsk, cách Moscow 1.500 cây-số.
 

Trang phục của phi công U-2


Theo phía Nga, Powers bị 4 người dân bắt giữ, họ tước vũ-khí của Powers và dẫn anh ta đến đồn cảnh-sát gần đó. Lúc chiếc U-2 đâm xuống đất cách biên-giới Nga 2 ngàn cây-số là lúc dân Moscow đang tập-trung tại Quảng-trường Đỏ để xem Hồng-quân Nga diễn binh. Thủ-Tướng Nikita Khrouchtchev và các viên chức cao-cấp Nga lần-lượt bước lên khán-đài danh-dự. Theo ông Joe Michaels, phóng-viên đài NBC của Mỹ có mặt ở đó, sau này kể lại như sau:

-“Vào khoảng 10:45 AM, một chuyện lạ đã xảy ra: Thống-chế Vershinine, Tư-lệnh Không-lực Nga hấp-tấp bước lên khán-đài với vẻ mặt khích-động dữ-dội. Ông ta đi vòng phía sau, đến cạnh và ghé vào tai Thủ-Tướng Khrouchtchev thì-thầm mấy câu. Tôi không được nghe nói gì nhưng biết chắc là ông ta báo tin về vụ chiếc phi-cơ U-2”.

Tin về chiếc U-2 chuyển về CIA và các cơ-quan khác của Mỹ có lẽ chậm hơn, vào lúc quá trưa. Theo chương-trình thì chiếc U-2 của Powers phải đến phi-trường Bodo lúc 7 giờ sáng giờ Hoa-Thịnh-Đốn. Khi không thấy Powers đến, căn-cứ Bodo mới báo cho Hoa-kỳ, nghĩa là cho Allen Dulles, giám-đốc CIA và Thomas Gates, Bộ-trưởng Quốc-phòng Mỹ biết. Thứ-trưởng Quốc-phòng Mỹ Douglas Dillon cùng Giám-đốc NASA cũng được cho biết vụ này trong khi Tổng-trưởng Quốc-phòng Mỹ đang công-du ở ngoại-quốc.

Đêm 1-5, các đại-diện những cơ-quan tình-báo, Bộ Ngoại-giao, Bộ Quốc-phòng, Hội đồng An-Ninh Quốc-gia phối-hợp nhau để bàn các biện-pháp đối-phó với vụ này. Họ đồng ý là “Mỹ sẽ thừa-nhận chiếc U-2 nhưng không thổ-lộ điều gì về nhiệm-vụ của loại phi-cơ này”. Quyết-định này được thông-báo với các cấp, mọi cơ-quan chính-phủ có liên-hệ, kể cả với căn-cứ Incirlik ở Thổ-Nhĩ-Kỳ.

Thế rồi đến ngày 3-5, trong cuộc họp của NATO (tiếng Pháp là OTAN, Minh Ước Bắc Đại-Tây Dương) ở Istambul, có Bộ-trưởng Ngoại-giao Mỹ là ông Herter tham-dự, giám-đốc hãng Thông-tấn UPI nhận được cú điện-thoại cho biết một phi-cơ của Hoa-kỳ đặt tại căn-cứ Incirlik đã bị mất-tích ở phía Đông Thổ-Nhĩ-Kỳ. Vị giám-đốc UPI này có điện-thoại lại cho căn-cứ Incirlik thì nơi đây trả lời là có một phi-cơ bị mất tích sau khi bị trục-trặc máy trên không-phận biên-giới Iran. UPI chuyển tin này về New York, ở đó nhận được vào lúc 08:00 AM ngày 3-5. Bản tin khá quan-trọng vì máy bay bị mất-tích, theo tin tức thông-báo, ở sát biên-giới Nga. Các báo-chí tại Mỹ khai-thác tin này rất kỹ. Một tờ báo đăng một bản tin như sau:

-“Một phi-cơ một động-cơ đã bị mất-tích ngày hôm nay ở vùng núi-non hiểm-trở ở Đông Nam Thổ-Nhĩ-Kỳ, gần biên-giới Nga. Phi-cơ này cùng với một phi-cơ bạn cất cánh từ Incirlik gần Adana để thi-hành một phi-vụ khí-tượng nhưng rồi không trở về căn-cứ. Viên phi-công báo cho phi-công bạn biết là mình bị trục-trặc hệ-thống dẫn khí Oxy, sau đó mất liên-lạc luôn. Ba phi-cơ C-54 ở căn-cứ Wheelus thuộc Lybie được lệnh đã thi-hành các phi-vụ tìm kiếm chiếc phi-cơ này”.

Thật ra, chỉ có tờ Washington Post và tờ Times Herald đăng trên trang nhất còn các báo khác đăng ở trang trong mà thôi. Họ dành cho các tin nóng-bỏng hơn, đó là các tin: Tổng-thống Eisenhower ăn sáng với một nhóm nghị-sĩ Cộng-hòa rồi ký một thỏa-ước cung-cấp lúa mì cho Ấn-độ, buổi chiều ông ta đi đánh golf, trong khi đó ở Paris thì đang sửa-soạn lại điện Élysée để chuẩn-bị cho kỳ họp thượng-đỉnh Nga-Mỹ sắp tới.
 

Hình ảnh các căn cứ quân sự của Nga mà U-2 chụp được


Mãi đến ngày 5-5, con cáo già Nikita Khrouchtchev mới tung vụ U-2 ra ánh-sáng trong cuộc họp ba ngày của Hội-đồng Tối-cao Xô-viết, một tổ-chức quyền-lực cao nhất của Nga ở điện Cẩm-linh. Theo thường lệ, ông ta đọc bài diễn-văn khai-mạc đề-cập đến các việc thay-đổi trong chính-quyền, các sắc thuế, lương-bổng, vật-giá,... Ông kéo dài bài diễn-văn lê-thê đến 3 tiếng đồng-hồ rồi đột-nhiên ông đề-cập đến vụ chiếc U-2. Ban đầu, ông nói bình-thường rồi to dần, to dần, đến độ chửi rũa. Nikita Khrouchtchev tố-cáo “Mỹ cho phi-cơ do-thám lãnh-thổ Nga” nhưng không nói phi-cơ bị hạ ở đâu và viên phi-công hiện giờ ra sao cùng những chi-tiết khác. Ông ta cảnh-cáo các quốc-gia đã cho Mỹ đặt căn-cứ không-quân và còn thêm rằng ông sẽ cực-lực phản-kháng vụ này với Mỹ và với Liên-hiệp-quốc.

Tại Hoa-Thịnh-Đốn, người Mỹ vội-vã trả lời ngay nhưng không được khéo lắm. Vì chênh-lệch múi giờ nên lời tố-cáo của Thủ Tướng Nga Nikita Khrouchtchev được gởi đến Tòa Bạch-ốc đúng vào lúc phiên họp thường-lệ của Hội-đồng An-ninh quốc-gia. Khi cuộc họp kết-thúc, TT Eisenhower yêu-cầu Hội-đồng bàn kỹ lại vấn-đề U-2. Cuối cùng, ủy-ban quyết-định sẽ hành-động theo dự-trù trước đó với việc Hoa-Kỳ chưa biết số-phận của viên phi-công ra sao. Không một ai trong cuộc họp nghĩ đến hậu-quả của dự tính này một khi Powers còn sống và bị bắt. Bởi thế, lời giải-thích của phía Mỹ thật là gượng-gạo. Bình-luận gia quân-sự của tờ Saint Louis Post Dispatch viết:

-“Câu chuyện dựng lên thật vụng-về, ngu-xuẩn. Người ta không thể ngờ chính-phủ lại dùng một câu chuyện như vậy để giải-thích cho người Nga. Giới hữu-trách phải chấp-nhận việc đã xảy ra nhưng cũng có thể không đi vào chi-tiết quá, đồng-thời lờ đi một vài chi-tiết quan-trọng với lý-do là đang mở một cuộc điều-tra...”.

Nhưng rồi chính-phủ Hoa-kỳ vẫn cố duy-trì sự sai lầm của mình. Vào trưa 5-5, tùy-viên báo-chí Bộ Ngoại-giao đưa ra một bản tin như sau:

-“Bộ Ngoại-giao vừa được NASA cho biết là ngày 3-5, một phi-cơ kiểu U-2 không võ-trang chuyên dùng cho các phi-vụ quan-sát khí-tượng, đặt căn-cứ ở Adana đã ghi nhận mất-tích hôm 1-5. Phi-cơ này do một phi-công dân-sự điều-khiển. Phi-công này cho biết là hệ-thống dẫn khí Oxy bị hỏng trước khi phi-cơ mất liên-lạc với căn-cứ. Thủ-tướng Nikita Khrouchtchev đã tuyên-bố là một phi-cơ Hoa-kỳ bị bắn hạ trên đất Nga cũng vào ngày ấy. Bởi thế, có thể là vì hỏng hệ-thống dẫn khí Oxy nên viên phi-công bị ngất không thể điều-khiển phi-cơ và vô-tình xâm-phạm vào không-phận Xô-viết. Hoa-kỳ đang tiếp-xúc với chính-phủ Nga về vụ này và đang điều-tra về số mạng của viên phi-công”.

Vị tùy-viên này còn cho biết là NASA có nhiều chi-tiết hơn về vụ này nhưng thật ra NASA chẳng biết gì cả. Cuối cùng, một bản tuyên-bố của chính-phủ Hoa-kỳ được phát đi vào lúc 01:30 PM. Bản tuyên-bố này có rất nhiều chi-tiết về chương-trình bay của chiếc U-2, dĩ-nhiên là: chương-trình bay để quan-sát khí-tượng và phi-công là nhân-viên của hãng Lockheed được hãng này cho NASA mượn, là NASA có độ 10 chiếc U-2 đặt căn-cứ trên nhiều quốc-gia từ Anh đến Okinawa, là U-2 được trang-bị nhiều máy-móc đặc-biệt để quan-sát các vụ xáo-trộn trong khí-quyển và các đám mây. Bị báo-chí chất-vấn, các nhân-viên NASA thú-nhận là U-2 có nhiều máy-móc chụp hình “nhưng không phải để chụp hình do-thám mà để chụp hình các đám mây”. Ông này cho biết phi-cơ mang huy-hiệu của NASA và sơn màu xanh thẫm như các phi-cơ của Không-quân, Hải-quân. Khi được các phóng-viên hỏi về lý-lịch viên phi-công, người này từ-chối trả lời và khuyên các ký-giả nên hỏi các giới-chức cao-cấp của hãng Lockheed là hơn.

Từ khi biết tin chiếc máy bay bị bắn hạ, CIA cố tìm cách khai-thác ở Moscow tin-tức về Powers nhưng vô-hiệu. Vào trưa 5-5, Đại-sứ Mỹ ở Nga là Thompson gởi về Bộ Ngoại-giao bản tin điện mật-mã cho biết đến lúc đó ông ta vẫn chưa biết tin-tức của Powers. Tin này làm cho các giới-chức Mỹ ở Hoa-Thịnh-Đốn kinh-hoàng và lo ngại nhiều. Hôm sau, trong buổi họp báo, tùy-viên báo-chí Bộ Ngoại-giao lại càng sa lầy hơn nữa. Khi bị báo-chí gặn hỏi, vị tùy-viên này trả lời:

-“Thật là vô lý khi các ông cho rằng chúng tôi bịa ra một câu chuyện để chối tội. Không bao giờ Hoa-kỳ lại cố-tình tìm cách vi-phạm không-phận Nga, tôi lặp lại rõ-ràng là: không bao giờ!”.

Trong khi đó, Eisenhower cố tìm cách tỏ ra không dính-dáng gì đến vụ này dù là ông ta cũng có đôi lời quan-trọng liên-quan đến nội-vụ. Trong cuộc đi thăm phòng triển-lãm, khi các ký-giả hỏi là ông thấy có cần phải đi Nga hay không, ông đã úp mở trả lời: “Có thể ...”. Ông tỏ ra vẻ thản-nhiên khi lên trực-thăng về chỗ nghỉ cuối tuần để chơi golf. Bộ-trưởng Ngoại-giao Christian A. Herter từ ngoại-quốc trở về cũng làm ra vẻ vụ U-2 không quan-trọng đối với Hoa-kỳ nhưng thật ra rất lo-lắng. Ông Herter gặp Tổng-thống Eisenhower hai hôm sau đó.

Khi Tổng-thống Hoa-Kỳ ra vẻ không quan tâm đến vụ U-2 nầy nhưng con cáo già Nikita Khrouchtchev thì quyết tâm ăn thua đủ. Trước Hội-đồng Xô-viết Tối-cao ở điện Cẩm-linh, ông ta cho trình-bày các hình-ảnh lấy được trong chiếc U-2 chứng tỏ rằng phi-vụ của U-2 hoàn-toàn cho công-tác gián-điệp. Ông cho biết Powers còn sống và đã thú-nhận tội-lỗi. Cuối cùng, ông ta tuyên-bố:

-“Khi người Mỹ biết Powers còn sống, họ sẽ đổi thái-độ, chúng ta chờ-đợi sự thay-đổi đó”.

Sáng hôm sau, Eisenhower lại đi đánh golf và tùy-viên báo-chí Tòa Bạch-ốc Hagerty phải đứng ra trả-lời các câu hỏi của báo-chí. Vị này chỉ nói quanh-co về các cuộc nổ thí-nghiệm nguyên-tử, về phương-pháp nổ ngầm dưới đất... Cuối cùng ông mới cho biết là mình đã báo-cáo lên Tổng-thống lời tố-cáo của Nga và ông ta không nói thêm gì. Ông còn cho biết bộ Ngoại-giao sẽ lo liệu tất cả về vụ này.

Trong khi đó, các viên chức Bộ Ngoại-giao họp bàn để trả lời cho Nikita Khrouchtchev. Tùy-viên Hagerty cho ký-giả biết Bộ-trưởng Herter đệ trình Tổng-thống một điệp văn. Và vào lúc 06:00 PM ngày Thứ bảy thì Bộ Ngoại-giao thông-báo cho báo-chí biết. Trong bức điệp văn, giới hữu-trách Mỹ thú nhận là mình nói dối trong lần trước và nói thêm:

-“Theo lệnh của Tổng-thống Hoa-kỳ, một cuộc điều-tra đã được mở ra và cho thấy rằng những giới chức ở Hoa-Thịnh-Đốn không bao giờ chấp-thuận những phi-vụ thám-thính như lời tố-cáo của Khrouchtchev. Tuy nhiên, muốn tìm biết các bí-mật giấu kín sau bức màn sắt, có thể người ta đã dùng các phi-vụ do-thám phi-cơ U-2 không võ-trang và do các phi-công dân-sự điều-khiển”.

Đây là lần đầu tiên trong lịch-sử thế-giới một quốc-gia đã thú-nhận hành-động gián-điệp của mình. Sau đó, các giới chức Mỹ lại công-khai nhận lãnh trách-nhiệm. Vào ngày 11-5, TT Eisenhower đã gánh nhận trách-nhiệm trong các chuyến bay do-thám, kể cả chuyến bay U-2 của Powers trong một buổi họp báo. Ông nói:

-“Vì nền an-ninh chung của thế-giới, chúng ta bó-buộc phải làm như vậy. Từ khi tham chính, tôi đã ra lệnh cho các viên giám-đốc các cơ-quan tình-báo phải dùng đủ mọi phương-tiện sẵn có để do-thám địch-tình hầu tránh cho thế-giới tự-do một cuộc tấn-công bất-ngờ”.

Riêng phần Giám-đốc CIA Allen Dules, đã đề-nghị với Tổng-thống Mỹ là ông tự hy-sinh sự-nghiệp và danh-dự của mình, nhận lãnh hết trách-nhiệm về vụ này để cứu-vớt danh-dự cho Tổng-thống Hoa-kỳ nhưng Tổng-thống Eisenhower từ-chối. Được sự khuyến-khích của một viên chức cao-cấp trong Bộ Ngoại-giao, TT Eisenhower đích-thân nhận hết trách-nhiệm với hy-vọng cứu sống được Powers một khi đã chứng tỏ Powers chỉ là người thừa-hành lệnh của Tổng-thống Mỹ, đây là một điểm son cho ông.

Ông Hagerty là người nổi tiếng rất khôn ngoan về chính trị và biết hướng-dẫn dư-luận, đã khuyên Tổng-thống đừng nhận trách-nhiệm, nhưng vô ích. Vì vậy, ông đã hết lòng giúp-đỡ cho Tổng-thống sau khi Tổng-thống tự thú. Ông Hagerty đã lý-luận với báo-chí để bênh-vực cho Eisenhower như sau:

-“Thí-dụ các bạn là điệp viên còn tôi là chính-phủ. Khi các bạn bị bắt, tôi có thể chối cãi là chưa bao giờ biết, chưa bao giờ nghe nói về các bạn. Nhưng nếu các bạn bị bắt cùng với chiếc U-2, thử hỏi lời chối-cãi của tôi có vững được không?”.

Thượng-nghị-sĩ đảng Dân-chủ là Fulbright, Chủ-tịch Ủy-ban Thượng-nghị-viện phụ-trách điều-tra vụ U-2 thì tuyên-bố:

-“Tổng-thống không cần phải xác-nhận hay chối-cãi gì cả. Tổng-thống phải giữ im-lặng về vụ này, và nếu có người chịu trách-nhiệm, đó là Giám-đốc Cơ-quan Tình-báo chứ không phải là Tổng-thống, người biểu-tượng cho chế-độ và quốc-thể của nhân-dân Hoa-kỳ”.

Riêng về giám-đốc CIA là Allen Dulles, không phải duy-nhất bị Nga xỉ-vả mà còn bị cả người Mỹ kịch-liệt chỉ-trích nữa, nhất là báo giới, một hệ thống “đánh hội đồng”. Trong tờ Des Moines Register and Tribune đã đăng như sau:

-“... Giả sử người Nga coi chiếc U-2 như là cuộc xâm-lấn có tính-cách khiêu-chiến và họ chỉ cần bấm cái nút là cả thế-giới thành hỏa ngục. Lúc đó, liệu ngành gián-điệp, phản gián-điệp và mọi trò ngu-xuẩn khác của người Mỹ còn có ích gì trong cái thế-giới đổ nát và chết-chóc?”.

Trong việc thú-nhận do-thám của các phi-vụ U-2, cũng có sự bất-đồng ý-kiến xảy ra. Ông Hagerty thì tuyên-bố:

-“Khi có một lực-lượng hùng mạnh lúc nào cũng đe-dọa ở cạnh ta, chúng ta phải dùng mọi phương-tiện do-thám để tìm-hiểu xem lúc nào lực-lượng ấy có thể tấn-công chúng ta”.

Thượng Nghị-sĩ Fulbright không chấp-nhận lời giải-thích ấy và cho rằng người Nga cũng không chấp-nhận. Theo ông thì:

-“Việc nhận do-thám là những hành-động tất-yếu không đủ để hợp-lý hóa việc làm ấy. Hơn nữa, Tổng-thống đề-cập việc làm ấy là một quyền-hạn chứ không phải là vì cần-thiết. Người Nga chỉ chấp-nhận việc do-thám là một hành-động cần-thiết vì họ cũng có và hiểu là cần phải do-thám trong một vài lãnh-vực nào đó”.

Lời tự thú của Eisenhower khiến cho Khrouchtchev ở vào một tình-trạng khó nói bởi vì chính Tổng-thống Mỹ đã tự cho mình có quyền xâm-phạm vào lãnh-thổ Nga-sô. Một vấn-đề khác nữa được đặt ra là có còn các chuyến bay U-2 như vậy nữa không? Trong suốt tuần-lễ trước ngày dự-trù cho cuộc hội-nghị thượng-đỉnh Paris, vấn-đề này được dư-luận chú-ý nhiều hơn. Tờ New York Times cho biết:

-“Tổng-thống Eisenhower đã ra lệnh hũy-bỏ mọi phi-vụ nào có xâm-phạm đến không-phận Nga dù gần hay xa”.

Thế nhưng ngay ngày hôm đó, ông Hagerty đính-chính ngay tin này. Người ta có cảm-tưởng là các phi-vụ này vẫn còn tiếp-tục dù rằng chính-phủ Hoa-kỳ đã tuyên-bố là không muốn dính-líu thêm về các vụ tương-tự.

Dù sao đi nữa thì dư-luận cũng đã làm tăng tình-trạng đối đầu thêm căng-thẳng trước ngày khai-mạc hội-nghị thượng-đỉnh Paris, cuộc họp mặt “bốn ông bự” (big four). Tên trùm đỏ Nikita Khrouchtchev đã để lộ sự tức-giận dữ-dội làm rung-động cả thế-giới. Khi dự triển-lãm các dư-vật của chiếc U-2 được trưng-bày ở Công-trường Gorki (Nga), ban đầu ông đã tỏ ra vui-vẻ nhưng khi các phóng-viên đến phỏng-vấn, ông đã tỏ vẻ giận-dữ khi đề-cập đến “sự đe-dọa của người Mỹ sẽ tiếp-tục các chuyến bay do-thám”. Càng lúc càng giận-dữ, ông ta tuyên-bố hũy-bỏ lời mời Tổng-thống Mỹ đến viếng Nga vào tháng sau vì ông cho rằng:

-“Vụ U-2 sẽ làm cho dân Nga không thể dành cảm-tình cho vị nguyên-thủ quốc-gia Mỹ được”.

Từ lời tuyên-bố này, người ta nghĩ ngay đến hội-nghị thượng-đỉnh Paris sắp đến khó mà thành-tựu được nhưng phía Hoa-kỳ vẫn sửa-soạn. Khi Tổng-thống Mỹ sắp bay qua Paris, tờ New York Times đã tóm-lược tình-hình như sau:

-“Cái thảm-kịch về chiếc phi-cơ do-thám, dù rằng Tổng-thống và các cộng-sự viên đã cố tìm cách làm giảm bớt nguy-hại nhưng cũng không tránh được bao nhiêu. Ông muốn làm cho tình-hình giảm bớt nhưng lại tăng thêm, ông muốn cho đồng-minh của mình tin-tưởng hơn nhưng lại làm cho họ thất-vọng hơn. Sự hy-sinh của ông chỉ đem lại những lời dối-trá và sự rối-loạn trong chính-phủ. Tất cả những đức tính của ông như: thận-trọng, kiên-nhẫn, tài chỉ-huy, sự khôn-khéo về quân-sự, ngay cả sự may-mắn cũng chẳng giúp gì cho ông trong lúc ông cần đến”.

Trước khi lên đường phó hội dự-trù khai mạc vào ngày 14-5-1960 tại Paris, CIA đã báo cho ông biết là có thể “Khrouchtchev sẽ sử-dụng hội-nghị như một phương-tiện tuyên-truyền chống lại Mỹ” nhưng Tổng-thống biết làm sao hơn. Ngay trong buổi hội-nghị sơ-bộ đầu tiên, Nikita Khrouchtchev đã gay-gắt lên án TT Eisenhower rồi rời phòng họp, sau đó bỏ luôn hội-đàm. Trước khi trở về Nga, ông còn chủ-tọa một cuộc họp-báo với toàn những lời chửi-rũa và đập bàn ầm-ỉ. Không ai đoán trước được ý-định của Khrouchtchev nhưng sau nầy, theo CIA thì rất có thể cơn giận-dữ của ông ta chỉ biểu-lộ vào phút chót.

Ở Moscow, người ta không thấy một dấu-hiệu nào chứng-tỏ có âm-mưu phá vỡ hội-nghị cả, người ta nghĩ là Nga sẽ lợi-dung hội-nghị để tuyên-truyền mà thôi. Dù sao đi nữa, phía Mỹ đã có dự-trù trước mọi thái-độ cần-thiết để đối-phó khi Khrouchtchev muốn phá vỡ hội-nghị hay thật tâm muốn thương-thuyết ngay từ khi Tổng-thống Mỹ tự thú-nhận phi-vụ do-thám U-2. Đến giờ phút này, mọi trách nhiệm về vụ U-2 đều quy về cho chính-phủ Mỹ chứ không quy cho CIA. Nhiều sự chỉ-trích về CIA, một trong các chỉ-trích đó là:

-“Tại sao cho các phi-vụ U-2 bay trong khi hội-nghị thượng-đỉnh sắp nhóm họp, nghĩa là nếu bị bắt sẽ làm hỏng cả cuộc họp?”.

Đại diện của CIA trả lời:

-“Chúng ta phải tùy-thuộc vào thời-tiết vì vùng này thường có mây che, phải thực-hiện ngay khi thời-tiết tốt. Ngoài ra, người Nga đã biết trước các phi-vụ của U-2 từ lâu lắm rồi chứ không phải đến khi Powers bị bắt”.

Bộ-trưởng Quốc-phòng Thomas S. Gates trình-bày trước Ủy-ban Ngoại-giao Thượng-viện vào ngày 2-6-1960 các kết-quả mà các phi-vụ U-2 thu-lượm được một cách đầy-đủ. Các tin-tức này tối cần cho các chiến-lược gia trong Bộ Tham-mưu Quân-lực Hoa-kỳ. Tướng Lemniter, Tham-mưu Trưởng cho biết:

-“Việc hủy-bỏ các phi-vụ U-2 sẽ gây ra một lỗ trống quan-trọng, điều cần thiết là phải có một phương-tiện do-thám khác cũng hữu-hiệu như vậy để thay-thế”.

Tổng-thống Mỹ tuyên-bốõ tuyên-bố là chính-phủ đang hoàn-thành một hệ-thống do-thám khác, không cần đến vai-trò của các phi-cơ. Ông đã ám-chỉ đến hai vệ-tinh nhân-tạo Midas II và Samos, một dùng để khám-phá ra các phi-đạn và một dùng vào việc chụp ảnh. Ngũ-giác đài cũng không dấu-giếm gì khi tuyên-bố:

-“Mọi tiềm-lực chiến-tranh của Nga-sô đều đã bị các ống ảnh trên phi-cơ U-2 thu-nhận tất cả”.

Lời tuyên-bố này đã cho thấy thành-quả to lớn của các phi-vụ U-2 như thế nào rồi. Rồi đến Bộ-trưởng Thomas S. Gates, ông cũng công-nhận các thành-quả của U-2. Ông đã tuyên-bố trước Ủy-ban Quân vụ Thượng-viện:

-“Chúng ta cần phải nhớ đến bài học Trân-Châu Cảng và đến cái thời mà người Mỹ không mở mắt nhìn ra ngoài”.

Tổng-thống Eisenhower cũng đã tuyên-bố một ý tương-tự:

-“Không một lúc nào sự do-thám lại bỏ lơi bởi vì Hoa-kỳ đã rút được khinh-nghiệm qua vụ Trân-Châu cảng là sự thương-thuyết chỉ là một sự che-đậy sự sửa-soạn chiến-tranh”.

Dĩ-nhiên, con cáo già Khrouchtchev tìm cách làm giảm bớt các thành-quả do phân-đội U-2 đã thu-lượm được. Ông tuyên-bố trong cuộc Đại-hội Kỳ 3 của Đảng Cộng-sản Lỗ-Ma-Ni ở Bucarest vào ngày 21-6-1960 như sau:

-“Những phi-cơ U-2 chẳng khám-phá ra được gì quan-trọng và phi-cơ chỉ bay qua những vùng không đáng kể”.

Lời nói của tên trùm đỏ này không đứng vững vì vào tháng 8-1960, người ta đọc thấy bản cung-từ của phi-công Powers như sau:

-“Công-tố viện nhận thấy có 5 nút bấm để điều-khiển các dụng-cụ do-thám trên phi-cơ và các dụng-cụ này đã hoạt-động rất hoàn-hão khi phi-cơ bay qua các khu kỹ-nghệ lớn và các khu-vực phòng-thủ của Nga-sô”.

Bản cung-từ còn cho biết là những dấu hiệu ghi trong máy ghi điện-tử của phi-cơ “chính là những dấu hiệu của các đài Radar ở dưới đất phát ra theo hệ-thống phòng-thủ của Quân-lực Sô-viết”. Công-tố viện còn buộc tội thêm:

-“Powers đã chụp hình rất nhiều trung-tâm phòng-thủ của ta, đồng-thời ghi-nhận những tín-hiệu của các đài Radar truyền đi,... Các cuộn phim tịch-thu được trên phi-cơ cho thấy hắn đã chụp hình nhiều căn-cứ kỹ-nghệ và quân-sự, cơ xưởng, kho dự-trữ dầu-hỏa, đường giao-thông, cầu-cống, đường hỏa-xa, nhà ga, đường dây điện cao-thế, phi-trường,...”

Theo các quan tòa của Nga trong phiên xử: “các bức hình chụp rất chính-xác và rõ-ràng”. Như thế, các phi-vụ của U-2 mang lại rất nhiều kết-quả cho CIA nói riêng và cho Hoa-Kỳ và phe Đồng-Minh nói chung.
 

Phiên tòa xử Francis Gary Powers


Sau vụ U-2 bị bắn rơi, người Nga đòi hỏi chính quyền Mỹ phải chính-thức xin lỗi nhưng chính phủ Mỹ chỉ nhận là có cho phi cơ U-2 thám-thính Nga nhưng không chịu đưa ra lời xin lỗi mà chỉ cho ngưng các chuyến bay thám-thính mà thôi và việc nầy đã làm cho phía Nga vô cùng tức giận.

Riêng tại Mỹ, có nhiều phản-ứng khác nhau. Trước tiên, một số đồng tình trong cách xử trí cùng việc nhận mọi trách-nhiệm trong cương vị Tổng-thống của ông Roosevelt. Một số khác tỏ ra giận dữ với Tổng-Thống Eisenhower trước những giải-quyết sự việc, và rồi người Mỹ trở nên hung-hăng (aggressive) hơn. Do vậy, khi John F. Kennedy đưa ra lời hứa lúc tranh cử là sẽ “mạnh tay với Cộng-sản hơn” (much tougher on communism), dân Mỹ đã bầu cho ông ta và ông đã đắc cử.

Các chuyến bay vượt qua lãnh-thổ Nga bao-la mà các phi-công U-2 gọi là những chuyến “đi dạo thường-xuyên” đã làm cho CIA có thể tự-hào và mãn-nguyện với những thành-quả họ đã thu-lượm được. Chỉ tiếc là sau mới có 4 năm hoạt-động, người Nga đã bắt được một chiếc U-2 lại làm cho chương-trình này phải bị gián-đoạn, chưa đáp-ứng được hoàn-toàn sự mong muốn của Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc với một chương-trình tốn kém và được họ dự-trù sẽ mang lại những thành-quả lâu dài hơn.

Triết-lý của nghề gián-điệp coi như được đúc-kết bởi ý-kiến của hai nhân-vật cao-cấp trong chính-quyền Hoa-Kỳ khi nội-vụ đã lắng chìm vào quá-khứ. Tại Hoa-Thịnh-Đốn, khi một phóng viên đài NBC phỏng-vấn Tùy-viên báo-chí Tòa Bạch-ốc, ông Hagerty, về bài học thu-lượm được sau vụ U-2, ông ta nói:

-“Đáng lý đừng để địch bắt được mình”.

Bộ-trưởng quốc-phòng Mỹ Thomas Gates, nhân-vật thứ hai khi được hỏi, đã trả lời:

-“Tốt hơn là đừng để một tai-nạn như thế xảy ra”.

Lối trả lời của những tay lãnh-đạo “nhà nghề” như thế đó!

Tưởng cũng cần biết thêm, trong cuộc chiến-tranh Việt-Nam, ngày 14-2-1964, 4 chiếc U-2 của Không lực Mỹ có ghé phi-trường Biên-Hòa nhưng sau đó rút đi vì không cần thiết. Và vào tháng 3-1965, Đại-úy Charle Wu Tse Shi bay U-2 thám thính xuyên Hoa lục, không lực Trung Cộng cho 2 máy bay Mig 21 bay theo bắn 2 trái hỏa-tiễn nhưng không trúng đích vì quá tầm bay của hỏa-tiễn lẫn phi-cơ Mig.

Người đã “để cho địch bắt” và “để tai-nạn xảy ra” tức là phi-công Francis G. Powers đã bị chính-quyền Nga kết án 10 năm tù: 3 năm cấm-cố (imprisonment) và 7 năm khổ sai (hard labor) trong một phiên xử vào tháng 10-1960 mặc dù ông đang bị thương. Sinh ngày 17-8-1929, là cựu-chiến-binh trong cuộc chiến tranh Cao-Ly, vào làm việc cho CIA năm 1960, sau khi bị Nga bắn rơi, ông ta trở thành một điệp-viên bị loại bỏ nhưng CIA vẫn còn rất nhiều người khác đang hoạt-động, ngay cả những điệp-viên còn ẩn-núp trong bóng tối ở Điện Cẩm-linh.

Trở về Mỹ năm 1962 sau 1 năm 9 tháng 9 ngày trong trại tù của Nga sau khi hai phía Nga, Mỹ thỏa-thuận trao đổi Powers bằng một điệp-viên của Nga, Đại-Tá Rudolph Ivanovich Abel bị Mỹ bắt tại Hoa Kỳ trước đó và cũng đang bị chính-quyền Mỹ bỏ tù. Powers trở lại nhiệm-vụ của mình và sau này trở thành một huấn-luyện-viên cho phi-công lái máy-bay U-2. Năm 1968, Powers viết hồi-ký, kể lại chi-tiết sự-kiện trên. Cuốn hồi-ký sau đó được Hollywood viết thành kịch bản cho phim truyền-hình.
 

Mộ của Francis Gary Powers tại Nghĩa trang Arlington


Đến tháng 11-1976, Powers trở thành phóng-viên truyền-hình cho hãng KNBC ở Los Angeles, chuyên đưa tin trực-tiếp từ phi-cơ về cho tổng đài, trong các chương-trình về: khí-tượng, giao-thông, cảnh-sát truy-nã tội phạm, xe hơi chạy nhanh,... Ông ta tử thương vào ngày 01-8-1977 tại Nam California trong một tai nạn máy bay khi đang thi-hành nhiệm-vụ lúc mới 46 tuổi. Thi hài ông được chôn ở Lô 11 tại Nghĩa-trang Quốc-gia Arlington.

IV. Lời kết:

Điệp vụ U-2 xem như kết thúc năm 1960 nhưng ảnh-hưởng của nó còn lâu dài, nhất là mặt ảnh-hưởng cả về chính-trị lẫn quân-sự. Các phi-cơ U-2 được tiếp-tục cải-tiến để dùng vào nhiều việc khác cho Không lực Mỹ. Trong các cuộc chiến gần đây (Kosovo, Afghanistan, Iraq 1, 2) cùng các phi-vụ thường xuyên khác, thám-thính cơ U-2 cũng đã cung-cấp nhiều tin-tức tình-báo hữu-hiệu, góp phần mang lại chiến-thắng nhanh chóng cho lực-lượng Liên quân để tiêu-diệt bọn khủng-bố quốc-tế.

Như vậy, tuy bị bại lộ từ năm 1960 nhưng đến nay nó vẫn còn được xử dụng, đủ cho chúng ta thấy tầm quan trọng của loại phi cơ nầy, một phương tiện chiến tranh đắt tiền của chính phủ Mỹ, đã góp phần trong việc gia tăng sức mạnh quân sự cho Hoa Kỳ trong nhiệm vụ bảo vệ hòa bình cho nhân loại.

Lê Chánh Thiêm.

Tài-liệu tham-khảo:

- Central Intelligence Agency, Andrew Tully.
- Tài-liệu tổng-hợp. 

 

Bài nầy được đăng lần đầu vào lúc 09:40:33 PM, Oct 20, 2007, có sửa sau đó.

 

*  *  *

 

Xem bài cùng tác giả, click vào đây
Xem trang Kiến thức, tài liệu, click tại đây
Trở về trang chính: http://www.nuiansongtra.com

 

 


Nếu độc giả, đồng hương, thân hữu muốn: 

* Liên-lạc với Ban Điều Hành hay webmaster 
* Gởi các sáng tác, tài liệu, hình-ảnh... để đăng 
* Cần bản copy tài liệu, hình, bài...trên trang web:

Xin gởi email về: quangngai@nuiansongtra.net 
hay: nuiansongtra1941@gmail.com

*  *  *

Copyright by authors & Website Nui An Song Tra - 2006


Created by Hiep Nguyen
log in | ghi danh