Click vào tam giác màu trắng, mở speaker để nghe âm thanh
Quốc ca Israel, bài "Hatikvah".
Tài liệu liên hệ:
SỰ KIỆN ISRAEL TẤN CÔNG CHIẾN HẠM USS LIBERTY
A. ĐẠI CƯƠNG.
Mỗi khi nói đến các cuộc chiến tranh khốc-liệt nhưng dai-dẳng, người ta nghĩ ngay đến cuộc chiến giữa Do Thái và khối Ả Rập. Khi nghe từ ngữ “lò lửa Trung Đông” ai nấy đều biết đó là nơi xảy ra các cuộc tranh chấp sanh tử tại vùng đất nóng bỏng, được bắt đầu từ giữa thế kỷ trước, đang sôi sục đến nay và có lẽ khó mà chấm dứt trong một thời gian ngắn. Nhiều người cho rằng cuộc chiến nầy chỉ chấm dứt khi có một “phép mầu” nào đó; hay phải qua một cơn biến động lớn, phải lớn hơn hai quả bom nguyên tử đã thả trên đất Nhật để chấm dứt 6 năm của thế chiến thứ hai; hay là một “vở kịch trường thiên không có phần kết”; hoặc theo một nhận xét có vẻ bi quan, là: “trừ phi một trong hai kẻ tử thù bị tiêu diệt”.
Nói đến nguyên nhân cuộc chiến giữa Israel và khối Á Rập, nhiều người cho rằng chỉ vì “dầu hỏa” khi biết được nguồn dầu hỏa ở Trung Đông chiếm đến 65% trữ lượng dầu trên thế giới (gần 90 tỷ tấn), nguồn “vàng đen” (dầu hỏa) nầy là nguyên liệu tối cần cho công-nông-nghiệp. Tuy nhiên, theo nhiều nhận định, cốt lõi của cuộc chiến dai-dẳng nầy chỉ vì “vấn đề Palestine”, quốc gia được Liên Hiệp Quốc đồng thuận cho lập quốc nhưng do tranh chấp nên "vấn đề" nầy vẫn còn lắm nhiêu khê.
Khi đánh giá và phân-tích các cuộc chiến tranh đã xảy ra từ trước đến nay trên vùng đất Trung Đông, nhiều chuyên gia quân sự trên thế giới không ngần ngại xếp các cuộc chiến không khoan nhượng, một mất một còn giữa Do-Thái và khối Ả-Rập là các cuộc chiến khốc-liệt nhất, từ tính-chất của cuộc chiến đến những sách lược, không chỉ của các quốc gia tham chiến mà của các khối quân sự, chính trị bên sau cổ xúy và bảo trợ. Ai nấy đều tự hỏi rằng “dân Israel chiến đấu vì sự tồn vong của dân-tộc họ nhưng tại sao nhận được sự trợ giúp của nhiều nước khác?” hay biết rằng “dân Palestine tranh đấu để có một mảnh đất hợp pháp” nhưng người ta hiểu ngay là “màn hỏa mù tranh dành đất đai giữa hai dân tộc Israel và Palestine” nầy chỉ là lớp sơn hào nhoáng cho có chính nghĩa hầu che đậy bộ mặt thật của sự tranh chấp kinh khiếp của các cường quốc đứng bên sau mà thôi. Vì vậy, đã có nhiều cuộc “đàm phán”, "hòa đàm", “ngoại giao con thoi”, “sức ép”... từ nhiều phía cùng các văn kiện đã ký kết, các lời hứa mạnh mẽ được đưa ra v.v... nhưng không thể nào làm dịu đi cái lò lửa không có cơ nguội dần nầy được.
Mỗi khi nhắc đến cuộc chiến chênh-lệch giữa hai địch thủ nầy, người ta nghĩ ngay đến những chiến-thuật, chiến-lược, tình báo, khoa-học kỹ-thuật, tinh-thần chiến-đấu, sách lược lấy ít chống nhiều, lấy lòng quyết tâm chống lại số đông muốn tiêu diệt địch thủ v.v...của Israel hay những sách lược của khối Á Rập muốn tiêu diệt Israel. Cũng từ cuộc chiến nầy, mới đây, phong trào “ôm bom tự sát” được những kẻ chủ mưu gian ác xúi dục những người ngu muội, cuồng tín, nhận xét một chiều, hy sinh mạng sống của mình cho những lý-tưởng xa vời mà không nghĩ đến mạng sống của bao người vô tội khác đã bị thảm sát bởi hành động ngu đần của họ, là một thảm họa của nhân loại đang đối mặt.
Hỏa lực của Israel tấn công quân Á Rập từ trên không
Cuộc chiến nầy có nhiều nguyên nhân, nhiều động lực cùng nhiều khía cạnh khác... là một đề tài rộng lớn nên trong phạm vi một bài viết, không thể nêu ra những chi tiết, nói đến rõ các mấu chốt liên quan đến các phía hay không thể xác định cái đúng sai, nên hay không nên...mà chỉ nên xem là một tài liệu tham khảo. Chủ đích bài viết nầy là chỉ nói sơ lược các cuộc chiến, được chia làm nhiều phần, tuy riêng biệt nhưng liên hệ với nhau mà mỗi mắt xích là một tình tiết đáng xem xét. Người viết sẽ cố gắng dẫn chứng những điều đã tạo nên cái tính “đặc biệt” của cuộc chiến để chúng ta thấy được lòng quyết tâm của các phía trong cuộc chiến, được các nhà quân sự trên thế giới chú tâm nghiên cứu, học hỏi, đã được gọi là những “bài học”, những “kinh nghiệm”, những “tấm gương” v.v...
Để đi vào đề tài, ta hãy nghe nhận định về tính dai dẳng và quyết liệt của cuộc chiến qua lời ông William Faulkner, cư dân của New Albany, Mississippi, Hoa Kỳ, một tiểu thuyết gia nổi tiếng từng đoạt giải Nobel văn chương, về cuộc xung đột giữa Ả-Rập và Israel: "Quá khứ chưa chết, thậm chí nó chưa phải là quá khứ"; và nhận xét của ông George Gordon Byron, một thi sĩ Anh: "Dân Do Thái khổ hơn những con thú không có hang".
B. SỰ THÀNH LẬP QUỐC GIA DO THÁI.
1. Lịch sử quốc gia Do Thái.
Cái tên "Israel" bắt nguồn từ trong Kinh thánh của Cơ Đốc giáo. Ông Jacob là tổ phụ của dân tộc Do Thái ngày nay, đã được đổi tên thành Israel sau khi chiến đấu với một đối thủ thần bí. Đất nước theo Kinh Thánh này của Jacob sau đó được gọi là "những đứa con của Israel" hay "Israelites". Người Israel (1) ngày nay được gọi là "Israelis". Vào năm 970 Trước Công Nguyên (TCN), con vua David là vua Solomon (973-937 TCN) trở thành vua của Israel. Trong vòng 10 năm, Solomon xây dựng đền thờ thiêng liêng như là Đền thờ Đầu tiên. Khi Đế quốc La Mã hùng mạnh, họ dựng lên Herod như là một vua chư hầu người Do Thái. Vương quốc của vua Herod bị đánh bại bởi người Do Thái trong cuộc khởi nghĩa Do Thái thứ nhất năm 70. Đó là cuộc chiến tranh Do Thái - La Mã đầu tiên. Khi Solomon chết, 10 bộ lạc phía bắc tách đôi: Israel ở miền Bắc và Judah ở miền Nam, thành lập Vương quốc Israel. Xứ Israel có thủ đô là Samaria, tồn tại đến năm 721 TCN thì bị đế quốc Assyria (nay ở miền bắc Iraq) tiêu diệt. Vào năm 722 người Do Thái bắt đầu cuộc sống lưu vong, làm nên một cộng đồng Do Thái hải ngoại. Danh từ Judah được phiên âm sang tiếng Hán thành "Do Thái". Xứ Judah có thủ đô là Jerusalem, tồn tại đến năm 587 trước Công Nguyên (TCN) thì bị đế quốc Tân Babylon (nay ở miền nam Iraq) tiêu diệt.
Binh sĩ Israel tại chiến trường
Theo lịch sử cổ đại, dân Do Thái bắt đầu định cư ở vùng đất Israel ngày nay vào khoảng năm 1800 TCN, sau đó di cư sang Ai Cập trong một thời gian. Đến khoảng năm 1255 TCN, nhà tiên tri Mosses dẫn dắt dân tộc Do Thái trở về đất nước Israel. Thời gian sau đó, người Israel liên tục phải chiến đấu chống lại quân du mục Philistine (là tổ tiên của người Palestine ngày nay) khi bộ tộc này bị đuổi khỏi quê hương của họ là đảo Crete. Như vậy, tổ tiên của người Palestine cũng là dân đến định cư vùng Palestine chứ không phải vùng đất nầy nguyên thủy là của dân tộc Palestine. Giai đoạn Đền Thờ thứ nhất kết thúc vào khoảng 586 TCN khi người Babylon chinh phạt Vương quốc Judah và phá hủy đền thờ Do Thái. Sau 50 năm bị quân Babylon chiếm đóng, vua Ba Tư là Cyrus Đại Đế cho phép người Do Thái quay trở về để xây dựng lại Jerusalem và đền thờ linh thiêng thứ hai hoàn thành vào năm 516 TCN. Khi Alexander Đại đế chinh phục Đế quốc Ba Tư, Israel rơi vào quyền cai trị của người Hy Lạp cổ (Hellenistic Greek), sau lại mất vào tay triều đại Ptolemaic rồi vào tay Đế quốc Seleucid. Người Seleucid cố gắng cải tạo lại Jerusalem theo văn minh Hy Lạp.
Tên Jerusalem có gốc từ tiếng Ebrai, nghĩa là “thành phố hòa bình”. Người Do Thái đã xây dựng ở Jerusalem thánh điện hùng vĩ, nguy nga và nơi đây đã trở thành trung tâm chính trị và tôn giáo của người Do-Thái cổ. Việc Hồi giáo cho rằng “Mohammad đã “đăng tiên” tại Jerusalem, đã lên đến 9 tầng mây, xin chỉ thị của Thánh chủ nên họ chọn nơi đây là thánh-địa thứ 3 (sau Mecca và Medina) của Hồi giáo” chỉ là tuyên bố đơn phương của họ. Thật sự, Jerusalem là trung tâm “đầu não” của người Israel ngay từ năm 1023 trước Công nguyên khi tổ tiên người Do Thái từ Ebrai trở lại định cư và đóng đô tại vùng đất Palestine nầy rồi. Canaan là tên trước của vùng đất mang tên Palestine ngày nay. Tổ tiên người Do Thái (là người Hebron) định cư tại vùng đất Palestine từ năm 3.000 TCN, sau đó bị các đế quốc xâm chiếm và đuổi đi nơi khác nhiều lần. Nói về thánh địa Jurusalem, người ta thường kết luận:
-“Jerusalem vốn là chính thức của người Do Thái, cũng là thánh địa của Cơ đốc giáo và là thánh địa thứ 3 của Hồi giáo”.
Với bên ngoài, Jerusalem là một thành phố thống nhất nhưng thực tế không phải như vậy. Đó là thành phố của nhiều sự phân biệt vô hình và hữu hình: của 2 chủng tộc (Israel và Palestine), của 3 đạo giáo lớn (Do Thái giáo, Hồi giáo, Cơ đốc giáo) và người không đạo; của ngôn ngữ, của âm nhạc, của mức sống, của phong tục tập quán, của học vấn, người ta có thể nghe tiếng Hébreu, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Anh và mọi thứ tiếng khác v.v...nhất là cảnh sát hay quân nhân của chủng tộc này nhởn nhơ trước mặt chủng tộc thù hận kia. Đây là một địa danh mà nếu viết cho hết, là cả một cuốn sách dày. Để đúc kết về địa danh Jerusalem nó có tầm quan trọng thế nào, ta nên biết hai chuyện. Thứ nhất là nhận định của Cựu T.T. Mỹ, ông Jimmy Carter, được đăng trên tờ “Diễn đàn Thông tin Quốc tế” ngày 7-8-2000:
-“Ai cũng nhận thấy sẽ không có một nhà lãnh đạo Israel nào dám hủy bỏ việc Israel đòi-hỏi chủ quyền của toàn bộ thành-phố Juersalem, và sẽ là hành-động tự sát về chính trị đối với bất kỳ nhà lãnh đạo Á Rập nào lại từ bỏ những đòi hỏi của người Á Rập đối với mảnh đất thiêng-liêng nầy của người Hồi giáo và Cơ-đốc giáo”.
Thứ hai, theo tờ Egyptian Gazette đã viết, trong cuộc họp thượng đỉnh tay ba tại trại David (Mỹ) giữa Thủ tướng Israel, chủ tịch PLO là Yasser Arafat và TT Mỹ Bill Clinton, khi nghe Mỹ đề nghị 30 tỷ USD để ông Arafat chấp nhận “duy trì sự đã rồi đối với Jerusalem và khu vực ngoại ô” (nghĩa là làm ngơ trước việc Israel chiếm đóng Jerusalem), ông Arafat đã nổi khùng và ra lệnh cho phái đoàn của ông rút lui cùng với câu trả lời dứt khoát, để cho thấy vấn đề Jerusalem quan trọng đến mức nào:
-“Cái gì cũng được, ngoài Jerusalem”.
Người Do Thái đã sống nhiều nơi trên thế giới, đông nhất là châu Âu và Trung Đông mở rộng, bị nhiều sự ngược đãi, đàn áp, nghèo đói và ngay cả diệt chủng. Chỉ riêng Đức Quốc Xã đã tiêu diệt hơn 6 triệu người Do Thái trong các lò thiêu của họ. Tuy nhiên, với tinh thần dân-tộc, người Israel đã thành công về văn hóa, kinh tế, học vấn, tài sản cá nhân ở nhiều quốc gia, như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đức, Ba Lan và Hoa Kỳ và chính các nguồn tài chánh nầy đã giúp đất nước Israel chống lại quyết tâm tiêu diệt họ của khối Á rập.
Chiến xa của Israel nghỉ quân
2. Chủ nghĩa phục quốc Do Thái.
Còn gọi là Zion hay Aliyah. Làn sóng di cư đầu tiên của người Do Thái tới Israel hay Aliyah bắt đầu năm vào năm 1881 khi họ trốn chạy khỏi sự ngược đãi tại các nơi họ cư trú, theo tư tưởng xã hội Zion của Moses Hess. Người Do Thái mua đất từ Ottoman và những chủ đất người Ả Rập. Sau đó, họ đã lập nên những khu định cư nông nghiệp. Đây là nguyên nhân chính gây ra những căng thẳng giữa người Do Thái và người Ả Rập. Ông Theodor Herzl (1860–1904), một người Do Thái đến từ nước Áo (Austria) lập ra Phong trào Zion. Năm 1896, ông xuất bản cuốn Der Judenstaat (= the Jews' State: Quốc gia của sắc dân Do Thái), xuất bản vào năm 1896, kêu gọi thành lập nước Do Thái (2). Năm sau, ông triệu tập Hội nghị Zion quốc tế đầu tiên.
Sự ra đời chủ nghĩa phục quốc Do Thái dẫn tới Aliyah thứ hai với số người Do Thái lên tới khoảng 40.000. Năm 1917, Bộ trưởng ngoại giao Anh Arthur J. Balfour đưa ra “Tuyên bố Balfour”: "ủng hộ việc thành lập tại vùng đất Do Thái cũ đã bị người Palestine chiếm một đất nước cho người Do Thái". Năm 1920, vùng này được giao cho Hội Quốc Liên và được quản lý bởi Anh. Làn sóng di cư của người Do Thái lại tiếp tục lần thứ ba và lần thứ tư sau Thế chiến thứ nhất. Những cuộc bạo động đầu tiên xảy ra ở Palestine năm 1929 của người Ả Rập đã giết chết 133 người Do Thái. Chủ nghĩa Phát xít năm 1933 dẫn tới làn sóng Aliyah thứ năm. Người Do Thái trong vùng tăng từ 11% của dân số năm 1922 lên tới 30% năm 1940. Việc tàn sát người Do Thái của Adolf Hitler khiến người Do Thái ở châu Âu trốn chạy, tạo nên làn sóng tỵ nạn mới, số lượng người Do Thái ở Palestine đã lên tới 600.000 người.
Năm 1939, Anh đưa ra cuốn Bạch thư hạn chế sự tỵ nạn của người Do Thái trong thời gian diễn ra chiến tranh là 75.000 người, không cho người Do Thái mua nhiều đất. Cuốn bạch thư này bị cộng đồng Do Thái và những người theo chủ nghĩa phục quốc coi là phản bội, đi ngược với Tuyên bố Balfour. Người Ả Rập cũng không hoàn toàn hài lòng, họ muốn cuộc di cư của người Do Thái phải dừng lại vĩnh viễn. Tuy nhiên, chính sách của Anh vẫn bám chặt vào cuốn sách này cho tới tận cuối thời kỳ uỷ trị của họ.
Người Do Thái đã chịu một lịch sử lâu dài bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất mà họ cư ngụ. Theo như báo Jewish Agency, trong năm 2007 có 13.2 triệu người Do Thái trên toàn thế giới; 5.4 triệu (40.9%) ở Israel, 5.3 triệu (40.2%) ở Hoa Kỳ và số còn lại rải rác khắp thế giới. Tuy nhiên, lịch sử bắt đầu từ trưa ngày 14-5-1948, trên dải đất phía Đông của Địa Trung Hải từ thành phố Safad ở phía Bắc xuống tận sa mạc Negev hoang vắng ở phía Nam, từ thành phố mới Tel Aviv nằm sát biển ở phía Tây đến thành phố cổ Jerusalem ở phía Đông tới, 650,000 người Israel yên lặng hồi hộp chờ đợi bên máy radio. Rồi đúng 4 giờ chiều, giọng ông David Ben-Gurion vang lên:
-“Do quyền lợi quốc gia và lịch sử của Dân Tộc Do Thái và do Nghị Quyết của Liên Hiệp Quốc, tôi công bố ở đây việc thành lập một quốc gia mới tại Palestine, được gọi là nước Do Thái”.
Đó là những lời thông báo cho quốc gia Do Thái ra đời. Tuyên bố vừa dứt, họ vui mừng, đứng lên cùng nhau nắm tay và hát bản nhạc “Hatikva” bài ca hy vọng. Từ ngày đó đến nay, dân tộc nầy luôn sống trong không khí chiến tranh, luôn lo ngại cho sự an nguy của dân tộc họ khi phải sống trong vùng đất mà chung quanh chỉ toàn là kẻ thù. Các cuộc chiến sau đó đã cuốn hút dân tộc nầy vào các cuộc chiến liên miên mà chúng ta sẽ đọc sau đây.
B. CÁC QUỐC GIA LIÊN ĐỚI TRONG CÁC CUỘC CHIẾN.
Hầu hết các quốc gia Hồi Giáo ở vùng Trung Đông cùng vào một khối, đều chống lại quyết định của LHQ về việc thành lập một nước Do Thái và Palestine – nhưng họ không chống lại việc lập nên Palestine và liên minh với nhau để làm cỏ, tiêu diệt quốc gia Israel tân lập này. Ta có thể kể: Ai Cập (Egypt), Jordan, Syria, Iraq, Iran, Lebanon, Saudi Arabia, Kuwait, Yemen, Algeria và Palestine.
C. CÁC CUỘC CHIẾN GIỮA DO THÁI VÀ KHỐI Ả RẬP.
Sau khi quốc gia Israel được thành lập, họ phải đương đầu với khối Ả Rập nhiều cuộc chiến. Ta lần lượt xem sơ qua các cuộc chiến nầy theo mốc thời gian, mỗi cuộc chiến với những trận đánh đẫm máu, khốc liệt, tàn bạo mà hai phe dốc toàn lực vào đó.
1. Cuộc chiến thứ nhất: Chiến tranh năm 1948.
Cuộc chiến giữa khối Ả Rập và Israel năm 1948, được người Israel gọi là “Chiến tranh giành độc lập” hay “Chiến tranh giải phóng”, còn người Palestine gọi là “al Nakba” (tiếng Ả Rập: cuộc Thảm họa), là cuộc chiến đầu tiên trong hàng loạt cuộc chiến giữa Israel và các nước Á rập.
Chiến xa Israel khai hỏa vào các vị trí của địch quân
Quốc gia Israel được ra đời vào ngày 14-5-1948 sau hơn 60 năm nỗ lực của các nhà lãnh đạo phái Zion (Chủ nghĩa lập quốc Do Thái) nhằm thiết lập chủ quyền và tự quyết trên một Quốc gia Do Thái. Sau Thế chiến thứ hai, Anh Quốc đã bày tỏ ý định muốn rút chân ra khỏi Palestine vốn đang được đặt dưới sự ủy trị của mình. Sau nhiều tranh luận gay gắt, vào ngày 29-11-1947, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ thăm, với 33 phiếu thuận trên 13 phiếu chống và 10 phiếu vắng mặt, chấp thuận phân chia xứ Palestine thành hai quốc gia độc lập: một dành cho người Ả Rập (43,53%), phần kia là của người Do Thái (56,47%), còn thành phố Jerusalem sẽ thuộc quyền quản lý của Liên Hiệp quốc. Người Do Thái tại Palestine chấp nhận đề xuất này, trong khi người Ả rập tại Palestine phản đối, bác bỏ ý tưởng về một nước Do Thái thành lập tại vùng đất Palestine. Liên-minh Á Rập - lúc đó có 7 nước thành viên - ra tuyên bố:
-“Người Á Rập quyết tâm chiến đấu chống lại Nghị quyết của Liên-Hiệp-Quốc phân chia Palestine và tuân theo lệnh của Giáo chủ, chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng”.
Đầu năm 1948, Israel đã cử bà Golda Meir qua Hoa Kỳ. Trong một tháng, bà Golda Meir đã quyên được 50 triệu Mỹ kim từ những người Mỹ gốc Do Thái. Số tiền nầy mua vũ khí của các nước ở châu Âu, gồm nhiều loại súng, máy bay và cả oanh tạc cơ của Đức Quốc Xã còn lại, với huy hiệu chữ Vạn ngược được sơn đi và thay bằng ngôi sao David của Do Thái.
Bạo lực giữa cộng đồng Ả Rập và Do Thái nổ ra ngay lập tức sau đó. Ngày 14-5-1948, lực lượng Anh cuối cùng rời khỏi Palestine và người Do Thái dưới sự chỉ đạo của David Ben Gurion tuyên bố thành lập nước Israel theo kế hoạch phân chia. Tuyên ngôn độc lập được đọc tại Tel Aviv. Ngay sau khi tuyên bố thành lập, các lực lượng Ai Cập, Syria, Iraq, Transjordan (Jordan ngày nay) và Leban tấn công Israel từ mọi hướng với dự định bóp chết quốc gia Israel non trẻ này. Sớm ngày hôm sau, lực lượng vũ trang chính quy của các nước Ai Cập, Syria, Transjordan và Iraq chia nhiều hướng tiến vào bao vây Tel Aviv để hỗ trợ người Ả Rập Palestine. Mở đầu, liên quân Á Rập do Tổng Tư Lệnh Abutula (người Transjordan) chỉ huy quân của 5 nước: Transjordan, Ai Cập, Syria, Leban và Iraq cùng với các lực lượng phụ của Á Rập Saudi, Yemen, Palestine, với gần 50 ngàn người cùng với chiến xa tràn vào vùng đất Israel.
Lúc khởi sự, ngoài mặt trận phía Bắc, Israel chận đứng được quân Syria và Leban nhưng mặt trận phía Đông do quân Transjordan cùng Iraq tấn công và mặt trận phía Nam do Ai Cập tiến đánh thì Israel bị thất thế do lực lượng quá nhỏ so với đối phương. Quân đội Israel thất thế vì chỉ được võ trang có 10,000 súng trường, mỗi khẩu chỉ được trang bị 50 viên đạn, 3,600 súng máy và 4 đội pháo binh cổ-lỗ-sỉ. Jerusalem bị Jordan chiếm, quân Iraq sắp cắt quân Israel làm đôi, thủ đô tân lập Tel Aviv bị quân Ai Cập vây hãm. Quân Ai Cập vượt biên giới, băng qua sa mạc Negev tiến đánh Nirim, một khu định cư Do Thái nhỏ. Theo chiến thuật, quân Ai Cập bắn đạn pháo binh, dùng xe bọc sắt tấn công sát hàng rào kẽm gai nhưng bên trong, người Do Thái chỉ khai hỏa khi thấy địch quân đã nằm trong tầm đạn. Sau nhiều lần tấn công nhưng bất thành, quân Ai Cập đành bỏ Nirim để tiến về Tel Avis và Jerusalem. Cách chiến đấu tại Nirim đã là kiểu mẫu cho các mặt trận vì sự gan dạ của dân, quân Do Thái, đã làm cho các sĩ quan, binh lính Á Rập nhút nhát không thể chiến thắng.
Ngày 29-5-1948, Liên Hiệp Quốc đưa ra nghị quyết ngưng bắn 4 tuần để giải quyết. Thời hạn ngưng bắn đã qua mà không giải quyết được gì, chiến sự lại bùng nổ. Những cuộc phản công mạnh mẽ gần Bethlehem đã giúp quân Israel xoay chuyển tình thế. Trong khi lợi dụng thời gian ngưng bắn, Israel tăng cường quân số, vũ khí đạn được chiến xa... thì nội bộ khối Á Rập lại chia rẽ trầm trọng, tướng lãnh nản lòng, binh sĩ nhụt chí. Quân đội Israel chiếm bán đảo Sinai, dải Gaza, cắt đường tiếp viện và rút lui của Ai Cập. Ngày 24-2-1949, Ai Cập ký hiệp định đình chiến với Israel. Tiếp theo sau, các nước khác theo chân: Leban vào tháng 3-1949, Jordan vào tháng 4-1949 và Syria vào tháng 7-1949 đều ký hiệp ước đình chiến với Israel. Các hiệp ước nầy mang tên “đình chiến” nhưng thực chất là những “tuyên bố đầu hàng” Israel mà thôi. Điều nầy càng khơi thêm mối thâm thù giữa Israel và khối Á Rập.
Bản đồ Dải Gaza
Trong cuộc chiến liều lĩnh và đẫm máu nầy, Israel đã đẩy lùi các lực lượng thù địch và sau đó tiến quân chiếm một số vùng lãnh thổ vốn được quy định giành cho người Ả Rập. Các thỏa thuận ngừng bắn mặc nhiên công nhận giới tuyến trở thành đường biên giới giữa Israel và các lãnh thổ Ả Rập. Israel kiểm soát toàn bộ lãnh thổ đã được chia cho họ trước đó và một số lớn lãnh thổ giành cho người Ả Rập cùng một nửa thành phố Jerusalem. Cuộc chiến tranh 1948-1949 làm lãnh thổ Israel tăng thêm 50%, cả phần Tây Jerusalem, làm hơn 700 ngàn người Ả Rập trở thành người tị nạn và hơn 800.000 người Do Thái cũng rơi vào tình trạng tương-tự, do phải bỏ chạy hay bị trục xuất khỏi các nước Ả Rập sau khi Israel thành lập. Số dân Ả Rập sinh sống trong vùng đất thuộc Israel giảm từ 700.000 xuống 165.000. Nhiều người Ả Rập chạy lánh nạn khi quân Do Thái phản công, bởi nghe tin về các vụ thảm sát tại làng mạc Ả Rập mà Israel chiếm đóng mặc dù họ chưa biết thực hư thế nào.
Tóm lại, khối Ả Rập đã không thể nuốt chửng nước Do Thái non trẻ bởi người Israel chiến đấu hết sức kiên cường cho sự tồn vong của dân tộc. Lòng quyết tâm của họ mạnh hơn quân lực của các nước Ả Rập. Theo quan điểm của người Ả Rập, sự ra đời của Israel là nguyên nhân gây ra “sự tẩy rửa sắc tộc” mà mục tiêu là những người Palestine. Sau cuộc chiến nầy, phần còn lại của Palestine được sáp nhập vào các quốc gia láng giềng: Ai Cập chiếm Dải Gaza và Transjordan chiếm Bờ Tây sông Jordan.
2. Cuộc chiến thứ hai: Chiến tranh kênh đào Suez.
Vào tháng 7-1956, tổng thống Ai Cập là Gamal Abdel-Nasser quyết định quốc hữu hóa kênh đào Suez, dài trên 150 km nối liền Địa Trung Hải và Hồng Hải, là con đường biển quan trọng về giao thương và cả về quân sự. Anh và Pháp là hai cổ đông lớn trong công ty xây dựng kênh đào chịu thiệt thòi nhiều nhất nếu Ai Cập giành lại quyền kiểm soát Suez. Một kế hoạch lật đổ tổng thống Nasser lập tức được vạch ra. Tel Aviv, kình địch của Ai Cập cũng được kéo vào cuộc. Cuộc chiến tranh lạnh cũng là nguyên nhân khơi nên cuộc chiến này khi khối Nga muốn bành trướng ảnh hưởng đến vùng Trung Đông. Thêm vào đó, vũ trang quân sự của 2 khối đổ vào vùng nầy khá lớn: khối Ả Rập mua quân-bị từ Nga và khối Cộng còn Israel nhận quân viện từ Mỹ.
Israel có nhiều lý do để tham gia cuộc chiến năm 1956. Sau khi Israel lập quốc, cả triệu người tị nạn đã tập trung ở biên giới của Israel đòi đất Palestine. Từ đây chính là cái nôi thành hình các nhóm du kích Hồi giáo. Những hoạt động nổi dậy khiến người Israel không lúc nào yên. Quan hệ giữa Israel và Jordan, Ai Cập, Syria, mỗi lúc một tệ hơn. Trong năm 1955, đụng độ Israel - Ả Rập xảy ra trên khắp vùng biên giới. Ngoài việc quốc hữu hóa kênh đào, tổng thống Nasser còn cho hải quân phong tỏa eo biển Tiran, con đường tiến ra Hồng Hải duy nhất của Israel và nhất là đưa lực lượng lớn quân đội Ai Cập đồn trú trên bán đảo Sinai, sát nách Israel. Với Israel, căn cứ quân sự này là cái gai nhọn và họ mong muốn nhổ nó đi. Ngoài ra, kế hoạch uy hiếp Ai Cập do Pháp và Anh chủ xướng rất phù hợp với tâm ý, mưu đồ của chính quyền Tel Aviv.
Ngày 29/10/1956, Israel tấn công vào quân Ai Cập trên khắp các mặt trận. Sau 5 ngày đụng độ, quân Do Thái đã chiếm gần hết bán đảo Sinai, dải Gaza và vô số mục tiêu khác của Ai Cập. Pháp và Anh can thiệp bằng cách trao cho Cairo và Tel Aviv một tối hậu thư đề nghị để Anh Pháp đưa quân vào chiếm đóng kênh Suez rồi thiết lập vùng đệm 16 km ở hai bên bờ hầu ngăn cách lực lượng hai bên. Do Thái đồng ý còn Ai Cập thì bác bỏ. Đó là cái cớ để liên quân Anh Pháp nhảy vào cuộc. Máy bay ném bom của Anh và Pháp lập tức quần đảo bầu trời lãnh thổ Ai Cập. Hai ngày sau, hai nước gửi quân tới kênh Suez, uy hiếp chính quyền Cairo. Hành động này bị lên án mạnh mẽ ở Liên Hợp Quốc. Nga dọa sẽ can thiệp, còn Mỹ hoàn toàn bị bất ngờ nên cũng không ủng hộ. Hơn nữa, vào dạo đó, chiến tranh Lạnh đang ở cao độ: Mỹ lo đối đầu với khối Cộng, nhất là việc Nga can thiệp vào Hung Gia Lợi; TT Mỹ Eisenhower không muốn chiến sự ở Trung Đông lan rộng. Trước sức ép của Mỹ buộc Anh, Pháp đành nhượng bộ. Ngày 22-12-1956, Liên quân Anh, Pháp rút khỏi Ai Cập. Người lính Do Thái cuối cùng cũng rời Sinai ngày 8/3/1957. Mỹ buộc Israel trả lại dải Gaza cho Ai Cập, Lực lượng Khẩn cấp của Liên Hợp Quốc được gửi tới để bảo vệ hòa bình khu vực.
Cuộc xung đột kênh Suez năm 1956 là một trận chiến ít thiệt hại nhân mạng: Anh mất 20, Pháp 10 quân nhân nhưng đã tạo nên nhiều chuyện: gióng lên tiếng chuông báo hiệu sự suy sụp ảnh hưởng của Anh Pháp, là quả đấm vào hy vọng cho một giải pháp hòa bình Trung Đông, đào thêm mối hằn thù Ả Rập - Israel. Ai Cập chịu nhiều tổn thất lớn nhất: cơ sở bị hư hại nặng, với 921 người thiệt mạng trong cuộc xung đột nhưng Cairo đã đạt được mục tiêu đề ra: giành quyền kiểm soát kênh đào Suez. Uy tín của Nasser tăng, chủ nghĩa quốc gia có cơ hội lan mạnh trên khu vực. Về phần Israel, thiệt hại 200 chiến binh nhưng đã phá hủy hết các căn cứ quân sự trên bán đảo Sinai. Sau xung đột, Ai Cập thân với Nga hơn, còn vai trò của Mỹ lần đầu tiên ở Trung Đông cũng được thừa nhận do tạo được áp lực tức khắc cho Anh Pháp phải rút quân. Điều này tạo nên học thuyết Eisenhower: “Mỹ trợ giúp bất kỳ nước Trung Đông nào bị cộng sản đe dọa”.
3. Cuộc chiến thứ ba: Cuộc chiến Sáu Ngày.
a. Nguyên nhân:
Khi nói đến chiến tranh giữa Israel và khối Á Rập, người ta nghĩ ngay đến “cuộc chiến 6 ngày” vào năm 1967, một kỳ tích mà quân đội Israel thực hiện, không những đã làm khiếp đảm địch quân mà còn là một tấm gương cho bao quân đội có nguy cơ phải tham chiến học hỏi, với sách lược mang tên “Chiến dịch phòng ngừa chớp nhoáng” (pre-emptive action), một hình thức của sách lược “tiên hạ thủ vi cường”. Sau cuộc chiến năm 1956, Ai Cập luôn có ý định phong tỏa eo biển Tiran, cửa ngõ duy nhất của Do Thái tới Elath để ra Hồng Hải. Tuy khối Á rập bị Israel đánh bại nhưng do Mỹ buộc Israel phải rút khỏi nơi chiếm đóng trên phần đất của các nước thuộc khối Á Rập nên Ai Cập vẫn còn hung hăng nhưng Israel luôn muốn đánh bật khối Á Rập nên chiến tranh là điều không thể tránh khỏi, nhất là khi Ai Cập phong tỏa eo biển Tiran vào ngày 23-5-1967.
Binh sĩ Israel tại Bức tường than thở ở Jerusalem,
sau khi họ chiếm được nơi này trong "cuộc chiến 6 ngày".
Rõ ràng Tel Aviv đã tiến hành một một nước cờ hết sức mạo hiểm khi sắp đặt kế hoạch tấn công các nước Ả Rập. Hành động nầy sẽ mang tiếng là kẻ gây chiến trước nên đứng trước nguy cơ bị cô lập, nhất là một lúc phải thọ địch ở cả 3 phía, chỉ sau lưng là biển là không bị tấn công mà thôi. Do Thái chỉ có khoảng 2,5 triệu dân, chống lại liên minh Á Rập gần 150 triệu dân mà chỉ riêng Ai Cập đã có 70 triệu dân, như vậy, một người Israel phải chống lại 60 người Á Rập. Ai Cập tin tưởng tuyệt đối rằng Nga và khối Cộng sẽ đứng về phe Ả Rập bởi trong một bữa tiệc đón Bộ trưởng Quốc phòng Ai Cập, chính quyền Moscow đã long trọng hứa rằng “Nga sẽ giữ tình thân và tiếp tục giúp đỡ Ai Cập nếu chiến tranh xảy ra”. Riêng Pháp, do bất mãn Mỹ trong cuộc chiến Kênh đào Suez nên ngày 2-6-1967, tổng thống De Gaulle tuyên bố “không tán thành nước nào động thủ trước chứ đừng nói là ủng hộ”. Phần Mỹ, do đang tham chiến tại Việt Nam nên không muốn lò lửa Trung Đông nóng lên. Tuy nhiên, vì sự “sống còn”, Israel buộc phải tiến hành chiến tranh theo dự định, bỏ qua các trở ngại vừa kể.
b. Tương quan lực lương.
Sau khi Ai Cập thắng lợi trong chủ trương quốc hữu hóa kênh đào Suez, buộc Anh, Pháp và Israel phải rút quân và trả lại những vùng đất chiếm đóng sau cuộc chiến Kênh đào Suez năm 1948. Khối Ả Rập xem Ai Cập như một quốc gia lãnh đạo cho cả khối, có khả năng cùng họ họ rửa mối nhục thất bại trong cuộc chiến trước và tiêu diệt Israel. Năm 1966, Syria ký hiệp ước liên minh với Ai Cập và ngày 31-5-1967, vua Hussein của Jordan gia nhập hiệp ước trên, thành lập một Liên Minh. Sau cuộc đảo chính quân sự tại Syria vào ngày 23-2-1066, chính phủ mới lại tăng cường liên hệ với Nga, làm cho Israel nóng mặt. Sau khi bắn rơi 6 máy bay Mig của Syria trên bầu trời Syria, phi cơ Israel quần thảo trên bầu trời thủ đô của Syria vào ngày 7-4-1967. Theo thỏa ước chung được ký kết, quân đội Ai Cập được cử sang để “bảo vệ” Syria. Ngày 13-5-1967, Nga thông báo cho Ai-Cập một “tin tối mật”: “Israel sẽ tấn công Syria vào ngày 17-5-1967”. Tin nầy sai. Ngày 19-5-1967, Ai Cập phong tỏa dải Gaza và vịnh Akaba.
Ai Cập đem 270 ngàn quân bố trí sát biên giới với Do Thái, trong đó 100 ngàn quân đồn trú trên bán đảo Sinai, sát nách Israel, xử dụng vũ khí tối tân nhất do Nga và Tiệp Khắc trang bị. Syria đưa 60 ngàn quân đến cao nguyên Golan, Jordan đem 60 ngàn quân đến biên giới, chịu dưới quyền chỉ huy của một tướng Ai Cập. Ngoài ra, Leban cũng gửi tới một đạo binh nhỏ còn Iraq, Algeria, Kuwait tuyên bố sẵn sàng viện trợ quân sự khi cần thiết. Theo ước tính, trước khi chiến tranh xảy ra, liên minh Á Rập có khoảng 470 ngàn quân, hơn 2.880 chiến xa và 810 phi cơ đang sẵn sàng tham chiến cùng với rất đông quân trừ bị. Thấy lực lượng của phe mình quá mạnh, trước khát vọng xóa bỏ nước Israel, Tổng thống Ai Cập Nasser tuyên bố thẳng thừng:
-"Mục tiêu căn bản của chúng tôi là hủy diệt Israel. Nhân dân Ả Rập muốn chiến tranh".
Nasser còn yêu cầu LHQ rút 3.400 binh sĩ thuộc LHQ khẩn cấp khỏi bán đảo Sinai sau chiến tranh 1956. Tình báo Israel thu lượm tất cả tin tức và đệ trình lên bộ máy điều hành chiến tranh. Tel Aviv liền ra lệnh động viên tất cả quân trừ bị đồng thời phát động chiến dịch ngoại giao. Khi Ai Cập phong tỏa eo biển Tiran (cửa vịnh Akaba), nội các Israel nhóm họp và ra tuyên bố kêu gọi phương Tây giúp đỡ con đường thông thương trên biển cho tàu bè Do Thái. Ngoại trưởng Abba Eban sang Pháp, Anh, Mỹ để tìm sự ủng hộ. Tuy vậy, mong muốn của Israel không thành. Paris cảnh cáo Israel không khai chiến trước. Tổng thống Johnson của Mỹ nói thẳng:
-“Washington không muốn Tel Aviv hành động đơn phương. Mỹ sẽ đề xuất thành lập một lực lượng hải quân quốc tế để buộc Ai Cập mở cửa vịnh Akaba”.
Tuy nhiên, kế hoạch này không thành. Khi các biện pháp ngoại giao, vận động hành lang (lobby) bất thành, để đối phó với nguy cơ từ địch thủ, vào ngày 4-6-1967, chính phủ Do Thái cho phép Bộ Quốc phòng thực hiện “Chiến dịch phòng ngừa chớp nhoáng” mà bộ nầy đã đệ trình trước đó. Dưới sức ép của nhân dân và trước mối nguy từ khối Ả Rập, chính quyền Tel Aviv quyết định phải mời vị tướng lão luyện Moshe Dayan (Độc nhãn tướng quân) về làm Bộ trưởng Quốc phòng. Ông Dayan thuộc phe đối lập với chính phủ đương nhiệm của Thủ tướng Eshkhol và rất thân với cựu thủ tướng David Ben Gourion (đảng Mapia). Nội các Israel trở thành nội các chiến tranh.
c. Chiến tranh bùng nổ.
“Cuộc chiến 6 ngày” bắt đầu lúc 7:45 sáng ngày 5-6-1967, là giờ mà sự phòng bị của Ai Cập lỏng-lẻo nhất, đa số sĩ quan trên đường tới trại. Theo kế hoạch đã định trước, toàn bộ không lực Israel đồng loạt cất cánh, hướng về các phi trường, căn cứ quân sự, doanh trại quân đội, nhà kho, nhà máy, hải cảng v.v... của Ai Cập để tấn công. Chỉ trong vòng một giờ, các phi trường Bir Tamda, Djebel Libni, El Arich, Bir Gafagfa,... và các căn cứ không quân Ai Cập trên bờ Tây Suez đã bị san phẳng. Xác người, súng ống, các ổ phòng không, máy bay, quân xa, kho tàng... ngổn ngang: 300 máy bay bị phá hủy hoàn toàn, 100 trong 350 phi công bị chết tại chỗ.
Hoàn toàn bị đặt trong trạng thái bất ngờ, chính quyền Cairo không kịp trở tay. Trước đó, Ai Cập dày công xây dựng một chiến lược cho Không lực của họ, đã bị Israel bẽ gãy hoàn toàn trong chốc lát: hơn 400 máy bay cùng hệ thống phòng thủ bị phá hủy hoàn toàn mà không gây được thiệt hại nhỏ nào cho Không lực Israel.
Chiến hạm tình báo của Mỹ, chiếc USS Liberty,
bị quân đội Israel tấn công trong cuộc chiến Trung Đông
Sau khi Không quân hoàn tất nhiệm vụ mà không gặp kháng cự nào, đến lúc Israel dùng đến Bộ binh. Lục quân Do Thái mới chia ra 3 mũi vượt bán đảo Sinai (Ai Cập) tiến tới các mục tiêu định sẵn. Rút kinh nghiệm của trận trước, theo đúng chiến lược, ở mặt trận phía Đông đối đầu với Jordan và phía Bắc đối đầu với Syria, Israel sử dụng hỏa lực của Pháo binh. Trên tất cả các mặt trận, quân đội Do Thái đã tiêu diệt hoàn toàn địch quân. Chỉ trong 6 ngày, họ làm cỏ bán đảo Sinai, chiếm đóng dải Gaza, khu Bờ Tây sông Jordan (có thành Jerusalem), cao nguyên Golan.
Vào đêm 7-6-1967, khi chiến xa Israel chỉ còn cách thủ đô Amman 10 km đang trên đường tiến đến đó, vua Jordan buộc phải chấp nhận yêu cầu đình chiến. Ngày 8-6-1967, Đại sứ Ai Cập tại LHQ là Mohammed Awad El Kouni thông báo chính phủ của ông bằng lòng ngừng chiến. Riêng Syria, cầm cự được thêm hai ngày nữa rồi cũng phải đầu hàng vào ngày 10-6-1967. Đây là một kỳ tích của “Chiến dịch phòng ngừa chớp nhoáng” (pre-emptive action) của Israel.
Ngoài yếu tố quyết đánh, quyết thắng vì cuộc chiến mang tính sống còn, không còn đường lùi mà Israel phải đương đầu, thắng lợi của Israel một phần do sự làm ngơ của hai siêu cường Mỹ Nga vì họ không muốn can thiệp vào lò lửa Trung Đông. Tinh thần chiến đấu của binh sĩ Israel rất cao, cấp chỉ huy giỏi, chiến thuật thông suốt, quân lính được huấn luyện kỹ càng, tinh nhuệ nên đã bù đắp vào nhược điểm ít quân so với đối phương. Khối Á Rập tuy quân số đông nhưng là quân ô hợp, thiếu huấn luyện, không có tinh thần và mục tiêu chiến đấu, cấp chỉ huy kém, tiếp liệu tồi. Điển hình, trong một mặt trận, quân Ai Cập không được tiếp viện, bị bỏ đói khát trong 3 ngày. Khi bị bắt, lính Israel cho họ một ca nước uống, họ mừng đến rơi nước mắt.
Một yếu-tố then chốt khác là đội quân tình báo Israel hoạt động rất hiệu quả: thu lượm các tin tức chính xác, nhanh chóng, chuyển tin ngay đến giới chức chỉ huy tại mặt trận để đáp ứng tức thời cho mặt trận đang diễn ra. Chính xác đến nỗi Israel biết chính xác số lượng phi cơ và quân lính ở các phi trường cùng hệ thống phòng không ra sao, các kiểu máy bay và số lượng, phi đạo ra sao, sinh hoạt thường xuyên ra sao, chỗ nào là máy bay thật, nơi nào chỉ là nghi binh, không chỉ ở một nơi nào mà họ còn thu lượm tin tức từ Hải, Lục, Không quân của đối phương, không phải riêng một nước nào mà cả khối Á Rập.
Tướng Moshe Dayan đã phải khen tình báo Israel:
-"Bất kỳ một quân đội nào trên thế giới cũng phải tự hào khi có một cơ quan tình báo như vậy".
Điếm then chốt nữa là Israel có “bộ chỉ huy chiến tranh” gồm toàn những lãnh đạo tài ba, mà người giỏi nhất là vị Bộ trưởng Quốc phòng: Tướng Độc nhãn Moshe Dayan, là một người chưa hề biết đến chiến bại ngay cả khi còn phục vụ trong quân đội Anh hồi Thế chiến II, rồi ông chỉ huy cuộc chiến giành độc lập 1948-1949. Moshe đảm nhiệm chức Tư lệnh quân lực Israel từ năm 1954 đến năm 1958, ông buộc các sĩ quan – ngay cả cấp Tướng, Tá - luôn phải xung phong trước quân sĩ để nêu gương. Khẩu lệnh của cấp chỉ huy là “Hãy theo tôi!” chứ không hộ “Tiến lên” như các quân đội khác. Ngoài ra, còn nhiều vị chỉ huy lừng danh khác trên các mặt trận, như: Tướng Mordekhai Hod, Tư lệnh Không quân, Tướng Yigael Yadin hay Yitzhak Rabin, người sau này làm thủ tướng Israel. Ngoài nam giới các sĩ quan nữ giới chỉ huy các binh đoàn nữ cũng không kém các nam sĩ quan, đã đánh các trận mà sau nầy, người Á Rập nghe đến tên đã bạt vía kinh hồn.
Tướng Moshe Dayan áp-dụng chiến thuật đánh thốc. Trên nhiều mặt trận, ông dàn một đoàn thiết giáp ồ ạt tiến lên, mở đường tấn công vào một vị trí địch đang phòng thủ. Khi phòng tuyến địch bị vỡ một đoạn, chiến xa sẽ tiếp tục yểm trợ để cho bộ binh xung kích tiến lên, phá vỡ chiến tuyến địch quân. Sau đó, bộ binh và đặc nhiệm sẽ nhảy dù xuống làm cỏ địch quân.
Ngoài ra, hệ thống truyền thông Israel tung những tin tức thất thiệt, ngụy tạo để đánh lừa địch. Các tin tức nầy đã tạo sự hỗn loạn từ hàng ngũ Tướng lãnh xuống đến binh sĩ khối Á Rập. Điển hình, qua một bản tin quân sự phát đi trên làn sóng phát thanh Israel, Bộ chỉ huy khối Ả Rập tưởng rằng quân Israel đang gặp trở ngại nhiều trên sa mạc Neguev hay trên dải Gaza, nhưng trên thực tế quân Israel đang uy hiếp thủ đô Cairo của Ai Cập. Một lần khác, máy bay Ả Rập nối tiếp nhau hạ cánh xuống phi trường Al Arish vì cờ Ai Cập vẫn đang bay trong gió và đài kiểm soát không lưu vẫn lanh lảnh giọng điều hợp viên Ả Rập. Họ không nhận được tin nào về việc phi trường này bị quân Israel chiếm đã lâu. Dĩ nhiên số quân Á Rập nầy bị Israel bắt gọn mà không tốn chút sức lực nào.
* Mặt trận tấn công Ai Cập.
Trên khắp các mặt, quân Israel tiến như chẻ tre, đúng theo bài bản đã được Bộ Quốc phòng Israel hoạch định. Israel chủ ý đập tan nước cầm đầu là Ai Cập, sẽ làm nhụt chí các nước phụ thuộc. Do vậy, Không quân Israel san bằng các phi trường Ai Cập trước tiên nên không còn chiếc máy bay Ai Cập nào lên nghênh chiến được. Sau một giờ oanh tạc, chính quyền Nasser mới biết những gì đã xảy ra nhưng không chính xác vì tất cả quân Ai Cập đã ăn bom đạn của Israel, không còn mấy người để báo cáo về đại bản doanh những gì đã xảy đến với họ. Cả thế giới ngạc nhiên, không hiểu tại sao phi công Israel lại nhằm trúng đích tài tình như vậy. Báo chí hồi đó còn đồn đại Tel Aviv có một khí giới bí mật nào đó. Tuy nhiên, những bức ảnh chụp được cho thấy các sân bay đều bị san phẳng bởi bom và rocket quy ước.
Với bộ binh, Tướng Moshe Dayan vẫn dùng chiến thuật như trận năm 1956: chia 3 mũi tấn công. Tính đến ngày 8/6, toàn bán đảo Sinai đã lọt vào tay Israel. Eo biển Tiran và vịnh Akaba được giải tỏa, Hải quân Israel hiện diện tại đó. Quân Israel tiến không ngừng từ lúc khai chiến cho đến lúc kết thúc chiến dịch, đồng nghĩa với lời đầu hàng của khối Á Rập.
Tính cho tới lúc đình chiến vào tối 8/6, Ai Cập thiệt hại 10.000 quân, 5.000 người bị bắt làm tù binh, gần 500 phi cơ tan xác, 400 xe tăng bị hủy, 300 chiếc khác bị Israel chiếm lấy. Còn phía Israel có 275 binh sĩ tử trận, 800 người bị thương, 61 tăng bị phá hủy.
* Mặt trận chống Jordan.
Theo chiến thuật đã định, Israel phải diệt Ai Cập là quốc gia đứng đầu liên minh nên ở mặt trận Jordan phía Đông, quân Israel bỏ ngỏ. Đến khi bắt đầu mặt trận nầy, quân Israel phải chiến đấu giành giật cổ thành, cuộc chiến diễn ra ác liệt trên từng khúc đường, từng căn nhà. Ngày 7-6-1967, quân Israel chiến được Đông Jerusalem. Cùng lúc, một cánh quân Israel khác chiếm Djenine, Naplouse rồi tiến vào bờ Tây sông Jordan. Vào chiều 7-6-1967, vua Hussein đành tuyên bố đầu hàng. Trên 6.000 người của phía Jordan bị chết hoặc mất tích, 760 bị thương, 460 bị bắt làm tù binh, khoảng 1/3 trong tổng số 300 chiến xa bị phá hủy, máy bay hư hỏng toàn bộ. Quân Do Thái tổn thất 350 người. 300 binh sĩ khác bị thương.
* Mặt trận phía Bắc tấn công Syria.
Trong khối Ả Rập, quân đội Syria chiến đấu kiên cường nhất. Syria dồn lên biên giới 75.000 quân được trang bị vũ khí tối tân nhất mới nhận của khối Cộng, cùng với 400 chiến xa. Lợi thế mà Syria có được là cao nguyên Golan đã có sẵn nhiều thành lũy kiên cố do Đức, Nga xây cất trước đó nên họ dựa vào đó chống trả lại quân Israel. Tel Aviv áp dụng chiến thuật tiêu hao và tấn công bất ngờ: dùng phi cơ oanh tạc vào phòng tuyến đối phương, nã đại bác suốt 5 giờ liền, rồi bộ binh Israel từ thung lũng sông Jordan đánh thốc lên với sự yểm trợ của chiến xa.
Israel bị tổn thất khá nặng trên mặt trận này tuy họ làm chủ không phận ngay từ phút đầu với 115 tử thương, 306 bị thương. Syria thiệt hại: 200 người chết, 5.000 người bị thương, 80 xe tăng bị phá hủy, 40 bị tịch thu. Vào lúc 6 giờ chiều ngày 10-6-1967, hai bên ngưng chiến theo lệnh của LHQ. Bộ trưởng Ngoại giao Syria đau lòng tuyên bố:
-"Syria thua vì không được không quân yểm hộ".
Tính ra, Syria là nước chịu thua sau hai nước Ai Cập và Jordan 2 ngày. Vậy là khối Ả Rập thêm một lần nữa bại trận trước Israel. Dựa vào đó, Israel chiếm thêm nhiều đất của Ai Cập. Cao nguyên Golan, khu Bờ Tây, Dải Gaza màu mỡ đều về tay Israel.
d. Hậu quả của cuộc chiến.
* Đối với khối Á Rập.
Sau khi ký kết đình chiến, khối Ả Rập gặp nhiều khó khăn. Nội bộ bất đồng do chiến lược bị phá vỡ, thua trận tạo cho kinh tế kiệt quê, nước nào cũng thiếu tiền, kênh Suez buộc phải đóng cửa làm cho Ai Cập mất 1,5 triệu Đô la mỗi tuần. Phần Jordan do mất cổ thành Jerusalem nên mất luôn nguồn lợi du lịch 34 triệu USD mỗi năm. Còn khu bờ Tây cung cấp 80% sản lượng dầu ô liu, 65% cây trái cũng bị Israel chiếm. Các quốc gia thuộc khối Á Rập khác như Ả Rập Saudi, Iraq, Kuwait... cũng thiệt hại nguồn tiền bán dầu khi cắt đứt quan hệ với phương Tây. Ai Cập chủ xướng Hội nghị Khartoum vào tháng 8-1967 đã thất bại trong việc tìm ra một giải pháp buộc Israel rút quân khỏi vùng họ chiếm đóng càng làm cho khối Ả Rập thêm chia rẽ trầm trọng.
* Đối với Israel.
Sau chiến thắng, Israel chiếm được nhiều đất hơn và tạm thời loại bỏ được mối nguy từ các nước Ả Rập và cái họa bị xóa sổ. Tuy nhiên, nó lại đào sâu thêm sự hận thù dân tộc ở Trung Đông. Nhiều người Israel đem gia đình tới và lập khu định cư ở Bờ Tây và Dải Gaza. Cho tới nay, có khoảng 2% dân số Israel đang sống tại khu vực này. Nội bộ Israel chia rẽ từ đó, với lý do: cánh hữu cho rằng vùng đất mới là chiến lợi phẩm hợp lý trong cuộc chiến chính nghĩa nhưng cánh tả cho rằng nên đổi nó để lấy hòa bình vĩnh cữu. Việc đảm bảo an ninh cho những người đang sống trong các khu định cư của Israel và kiến tạo hòa bình với khối Ả Rập là một nan đề cho chính quyền tại Tel Aviv.
Khói lửa bao trùm khu vực chiến tranh xảy ra
Ngoài ra, sau chiến thắng, người ta lo ngại hơn cho Israel. Sự xấu hổ vì thua trận và phẫn nộ do những hệ lụy nảy sinh trong khối Ả Rập từ sau thất bại ê chề nầy đã đẻ ra phong trào Hồi giáo quá khích ở Trung Đông, đã tạo nên các hoạt động du kích Hồi giáo và nhất là sự thành lập lực lượng Palestine và tạo thêm nhiều vấn nạn mới.
* Đối với Nga - Mỹ.
Sau cuộc chiến năm 1967, uy tín của Nga và khối Cộng suy giảm ở Trung Đông do họ không can thiệp để cứu nguy Ai Cập tuy rằng có hứa hẹn ban đầu. Còn Mỹ và phương Tây lại giành thắng lợi rất lớn về tinh thần. Nhiều nước Ả Rập mà tiêu biểu là Jordan quyết định ngả hẳn sang khối Tự do, nhất là đa số nhân dân thuộc các nước bại trận.
4. Cuộc chiến thứ tư: Chiến tranh tiêu hao.
Sau cuộc chiến ngày 5-6-1967, khối Á Rập và Israel vẫn trong tình trạng đối đầu, hai bên không ngừng dùng pháo binh bắn phá đối phương để áp dụng kế hoạch “tiêu hao lực lượng”. Chiến tranh tiêu hao bắt đầu từ năm 1968 đến 1972, nhiều cuộc chiến nhỏ xảy ra dọc biên giới giữa Israel và Siria, Ai Cập. Những năm đầu thập kỷ 1970, các lực lượng vũ trang người Palestine bắt đầu những làn sóng tấn công mạnh mẽ chống lại Israel tại Trung Đông và các mục tiêu của người Israel tại khắp nơi trên thế giới, trong đó, vụ ấn công vào đoàn thể-thao Israel tại Thế vận hội 1972 tổ chức tại Munchen làm người Israel phẫn nộ nhất. Các phần tử vũ trang Palestine bắt làm con tin và thảm sát đoàn thể thao Israel. Thế là Israel trả đũa bằng quân sự, với chiến dịch mang tên “Sự giận giữ của Chúa”.
Các nhân viên của cơ quan tình báo Mossad đã ám sát hầu hết những người có tham gia vào vụ thảm sát. Ha-Mosad le-Modi'in u-le-Tafkidim Meyukhadim (tiếng Hebrew: Viện các Chiến dịch Đặc biệt và Tình báo), được gọi tắt là Mossad (có nghĩa Viện), là Cơ quan Tình báo của Israel có các nhiệm vụ: thu thập thông tin tình báo, tiến hành các chiến dịch bí mật như các hoạt động bán du kích, chống khủng bố, hỗ trợ kế hoạch Aliyah (hoạt động di cư quay trở về quê hương của người Do Thái) tại những nơi hoạt động này bị ngăn cấm v.v... Đây là một trong số các cơ quan tình báo chính của Israel, như Aman (tình báo quân đội) và Shin Bet (an ninh nội địa), nhưng giám đốc cơ quan này báo cáo trực tiếp lên Thủ tướng mà thôi, tương tự như Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA), Sở Tình báo Mật (MI6) của Anh Quốc và Sở Tình báo Mật Australia (ASIS).
Cũng cần nói thêm, Mossad cũng sẵn sàng ra tay tiêu diệt, ngay cả “đồng minh”, trong đó có Mỹ, miễn sao có lợi cho họ. Xin nêu ra 2 vụ điển hình.
Trong vụ Lavon khét tiếng năm 1954, đặc vụ Israel đã đánh bom vài cơ quan của Mỹ tại Ai Cập hầu tạo ra lộn xộn để cố gieo rắc mối bất hòa giữa Washington và Cairo.
Hạm trưởng USS Liberty,
Hải Quân Trung Tá (Commander) William Loren McGonagle
Một vụ khác, lớn hơn nhiều và đã gây ra nhiều tranh cãi kịch liệt: trong “Cuộc chiến tranh 6 ngày”, máy bay và tàu phóng ngư lôi của Israel tấn công chiếc tàu tình báo điện tử USS Liberty thuộc Hạm đội 6 của Mỹ vào ngày 9-6-1967 khi tàu nầy đang thả trôi ngoài khơi trên hải phận quốc tế của Địa Trung Hải, gần Ai Cập, cách bờ biển thuộc bán đảo Sinai khoảng 12,5 hải lý (23 km). Cuộc tấn công làm chết 34 quân nhân, làm bị thương 173 người. Đây là cuộc tấn công làm thiệt hại về người đứng thứ hai cho Mỹ kể từ khi Chiến tranh thế giới lần thứ II kết thúc, chỉ kém cuộc tấn công bằng hỏa tiễn của Iraq tấn công chiếc USS Stark vào ngày 17/05/1987.
Chiến hạm tình báo USS Liberty
Lúc 2 giờ chiều ngày 8-6-1967, 3 chiến đấu cơ Mirage III của Israel bất ngờ sà xuống, nã đại bác và phóng hỏa tiễn xuống tàu USS Liberty. Sau đó, tàu phóng ngư lôi của Israel xuất hiện, bắn 5 quả ngư lôi về phía chiếc USS Liberty. Khi hạm trưởng McGonagle nhìn thấy ngư lôi đang lao về phía tàu, ông đã ra lệnh nhiệm sở tác chiến và USS Liberty bắn trả. Hai ổ súng trên tàu Liberty đã khai hỏa. Tàu chiến Israel đáp trả và bắn thêm hai quả ngư lôi nữa. Một quả trúng vào phía trước mạn phải, tạo một lỗ thủng lớn trong khoang chở hàng đã được cải tạo thành phòng kỹ thuật, làm thiệt mạng thêm 26 quân nhân. Những tàu phóng ngư lôi Israel tiếp tục bám sát USS Liberty rồi bắn xối xả vào các xuồng cấp cứu được thả xuống nước với ý định tiêu huỷ tất cả các xuồng đào thoát. Thông thường, khi thuỷ thủ đoàn rời tàu và thả xuồng cấp cứu thì được xem như là buông súng ngưng chiến, sau đó, chỉ việc vớt họ và bắt làm tù binh nhưng Israel lại muốn tiệu diệt hoàn toàn như để phi tang chứng tích.
USS Liberty bị bắn thủng ngang hông cùng nhiều chỗ khác trên thân tàu
USS Liberty là một tàu tình báo điện tử, là phương tiện do thám kỹ thuật thông dụng trước thời tình báo vệ tinh ngày nay, cho nên có nhiều dàn ăng ten nhưng ít súng. Ngoài vũ khí cá nhân, tàu chỉ có 4 ổ đại liên 50 dùng để diệt địch leo lên cướp tàu chứ không thích hợp khi hải chiến. USS Liberty liên lạc được với Hạm đội 6 xin khẩn cấp cứu viện. Hai chiếc USS Saratoga và USS America cho 12 phi cơ F4 cất cánh với lệnh “bảo vệ USS Liberty bằng vũ lực”, được chuyển bằng bạch văn nên có lẽ ba chiếc tàu phóng ngư lôi của Israel nghe được nên bỏ đi. Tuy nhiên, có 2 chiếc trực thăng Israel chở lính xung kích võ trang đến, vờn ở trên đầu chiếc Liberty, ý muốn đổ bộ. Hạm trưởng McGonagle ra lệnh cho thuộc cấp chuẩn bị chống trả cuộc đổ bộ bằng trực thăng này nhưng hai chiếc trực thăng lòng vòng một lúc rồi bỏ đi.
Khoảng ba giờ sau vụ tấn công, Israel đã thông báo đến sứ quán Mỹ ở Tel Aviv về vụ nầy và hứa cung cấp máy bay trực thăng để chở tùy viên Hải quân của Đại sứ quán Mỹ đến xem xét tại chỗ. Tàu Liberty bị thương vong nặng nề. Trong tổng số 294 người có đến 34 người chết và 173 bị thương, thân tàu bị trên 800 vết đạn to và hàng ngàn vết đạn nhỏ, cờ Hoa Kỳ bị rách bươm. Con tàu trị giá 40 triệu USD này, năm 1970 được bán như sắt vụn với giá $101.000 USD.
Phi cơ Israel (mang số 59 và phù hiệu Quốc kỳ Do Thái trên cánh)
bay ngang trên tàu lúc tấn công USS Liberty
Sau khi nội vụ đã xảy ra, các giới chức Israel chối rằng “cuộc tấn công không phải là kết quả của một âm mưu từ trước nhằm vào một tàu Mỹ”. Israel cho biết họ được bảo đảm là không có tàu Mỹ nào trên vùng này và không lực Israel đã lầm chiếc USS Liberty là tàu chiến của Ai Cập. Họ bào chữa rằng “Israel chẳng có lý gì lại đi đột kích một đồng minh quan trọng như Mỹ”. Israel nhắc rằng Mỹ cũng có mắc sai lầm như tự tấn công quân mình hay quân bạn trong những vụ thường được gọi là “hỏa lực thân thiện”.
Đa số đều nhận xét rằng cuộc tấn công là có âm mưu, dụng tâm từ trước vì rõ ràng là chữ và số Latin khác hẳn chữ và số Arab, chiếc USS Liberty, mang mã số rành mạch GTR 5, kẻ bằng mẫu tự Latin. Thủy thủ trên USS Liberty sau nầy xác định, một trong số những chiếc máy bay đã xà xuống gần họ, sát đến mức cánh quạt của nó kêu phành phạch ngay trên boong tàu, và những viên phi công vẫy tay với các thủy thủ, và họ vẫy lại, tàu mang cờ Mỹ nữa nên không có chuyện nhầm lẫn được. Một phi công Israel là Rabin sau nầy cho hay, rõ ràng anh thấy chữ viết trên tàu là chữ phương Tây chứ không phải chữ Á Rập và tàu treo cờ Mỹ nhưng không hiểu sao tàu Liberty không đáp trả. Những người hoài nghi lời giải thích này của Israel còn có cả các quan chức cao cấp của Mỹ. Ngoại trưởng lúc đó là ông Dean Rusk cho hay:
-“Tôi chưa bao giờ đồng ý với lời giải thích của Israel. Chúng tôi không chấp nhận những lời giải thích của họ. Hồi đó tôi đã không tin họ và ngày nay vẫn không tin. Cuộc tấn công là một sự sỉ nhục”.
Cựu giám đốc CIA là Richard Helms nói:
-“Ủy ban điều tra đã kết luận rằng phía Israel đã biết chính xác họ đang làm gì khi tấn công Liberty”.
Ngoài ra, Đô đốc Moorer cùng nhiều sĩ quan Hải Quân Mỹ, trong đó có hạm trưởng đều lên tiếng bất bình trước thái độ im lặng của Hải Quân, của chính phủ Mỹ nhưng không làm gì được.
USS Liberty đang bị máy bay Do Thái tấn công
Năm 2004, Đại tá Ward Boston thuộc Tòa án Điều tra này cho biết là đô đốc Kidd, Chủ tịch Tòa án này (đã chết) cũng như chính ông đều kết luận sau cuộc điều tra là rõ ràng Israel đã chủ tâm đánh tàu Liberty dù biết đây là tàu Mỹ. Ông giải thích việc lên tiếng chậm trễ này, sau 37 năm, là ở vị thế một quân nhân, ông phải chấp hành mệnh lệnh của Bộ trưởng Quốc phòng và Tổng Tư Lệnh Quân đội tức Tổng thống, là “phải im miệng”. Ông tâm sự:
-“Bằng chứng đã quá rõ ràng, cả Đô đốc Kidd và tôi lúc đó đều tin chắc rằng cuộc tấn công làm chết 34 lính thủy Mỹ và làm bị thương 172 những người khác, là một nỗ lực có tính toán nhằm đánh chìm một tàu Mỹ và giết toàn bộ đoàn thủy thủ đoàn. Mỗi buổi tối, sau những bằng chứng thu thập được mỗi ngày, chúng tôi thường bàn luận những nhận xét riêng của mình về những gì mà chúng tôi nhìn thấy và nghe thấy. Tôi còn nhớ, Đô Đốc Kidd còn gọi riêng Israel là “bọn giết người chó đẻ”. Đó là điều mà cả hai chúng tôi tin tưởng dựa vào chứng cứ mà chúng tôi thu thập được. Cuộc tấn công của Israel có sắp đặt từ trước và không thể là một tai nạn".
Vụ tấn công USS Liberty đã gây rất nhiều tranh cãi cùng hàng loạt những giả thuyết được đưa ra, trong đó có ba giả thuyết chính. Thứ nhất, cho rằng Israel sợ USS Liberty phát giác việc Israel thủ tiêu tập thể một ngàn tù binh Ai Cập nên Israel phải diệt USS Liberty. Nhưng giả thuyết nầy không vững vì với lý do đó mà phải tiêu diệt cả một tàu chiến nước bạn với việc giết thêm 300 mạng người nữa. Giả thuyết thứ hai cho rằng Israel sợ tàu Liberty phát hiện việc Syria sửa soạn đánh chiếm cao nguyên Golan. Đây là hành động mở rộng chiến tranh, có thể làm Nga can thiệp, làm cho Mỹ có thể ngăn cản hành động của Israel. Giả thuyết này về sau mới biết cũng sai lầm vì Israel đã thông báo cho Mỹ dự tính trên và được Mỹ chấp thuận. Giả thuyết cuối là Israel định đánh chìm tàu Liberty để đổ vấy cho Ai Cập, kéo Hoa Kỳ vào cuộc chiến. Người ta cho rằng đợt máy bay đầu của Hải quân Mỹ cất cánh từ chiếc USS Saratoga, theo giả thuyết này, là để ném bom Cairo, có mang theo cả vũ khí nguyên tử nhưng lệnh bị thu hồi khi thấy âm mưu bị thất bại trong việc đánh chìm USS Liberty. Đợt máy bay thứ hai cất cánh từ USS America mới là để cứu chiếc USS Liberty. Nếu quả như giả thuyết nầy thì ngay cấp Bộ Tư lệnh Hạm đội hay Tham mưu trưởng Liên quân cũng không được phép biết mà chỉ Tổng thống Johnson và Bộ trưởng quốc phòng Mc Namara biết mà thôi.
Vào năm 2001, Quyển “Chân tướng các bí mật” (Body of Secrets) do nhà xuất bản Doubleday (Mỹ) phát hành dẫn lời các cựu chiến binh Mỹ tuyên bố “quân đội Israel đã chủ định tấn công tàu USS Liberty, chứ không phải do nhầm lẫn”. Sự thật là chính quyền Israel cố tình đánh chìm tàu USS Liberty rồi đổ lỗi cho Ai Cập và như vậy thì Tổng thống Lyndon Johnson có “lý do” để ra lệnh cho quân đội tham chiến bên cạnh Israel chống lại khối A-Rập đang vây đánh Do Thái. Đến năm 2003, nhà báo Peter Hounam viết cuốn “Operation Cyanide” lại đề xướng một giả thuyết khác. Trong sách giải thích tại sao quân đội Mỹ không chống cự, tác giả cho rằng Israel và Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tán thành việc USS Liberty sẽ bị đánh chìm cùng với toàn bộ thủy thủ đoàn để đổ lỗi cho Ai Cập, tạo lý do cho Mỹ tấn công Ai Cập. Tuy nhiên, những điều Hounam đưa ra trong sách chỉ là một giả thuyết mà thôi.
Một năm sau, USS Liberty bị "loại ngũ", rồi chuyển giao cho cơ quan hàng hải Mỹ (MARAD) và con tàu trị giá 40 triệu USD này trở thành đống sắt vụn nặng gần 8.000 tấn được bán với giá 101.000 USD. Mãi đến ngày 17/12/1987, vấn đề này đã được hai chính phủ thống nhất chính thức khép lại thông qua các biên bản ngoại giao. Israel đã bỏ ra gần 13 triệu đô la để bồi thường cho những nạn nhân Mỹ.
Trở lại đề tài, tuy nhiên, cứ theo đà “tiêu hao” nầy, hai bên sẽ không chịu nỗi thiệt hại từ vật chất đến nhân mạng, cho nên 2 bên đều cho rằng đây chỉ là giải pháp tạm thời. Bộ chỉ huy hai bên đều nghiện cứu kế hoạch đối phó và theo dõi đối phương để tìm ra đối sách. Khi Anwar Sadat lên nắm quyền năm 1970, Ai Cập lâm vào tình trạng bi đát: xã hội bất ổn, kinh tế vô cùng khó khăn. Kênh Suez, mối lợi 1,5 triệu USD mỗi tuần của Ai Cập phải đóng cửa kể từ cuộc chiến 6 ngày với Israel. Do Thái lại chiếm bán đảo Sinai giàu dầu mỏ. Suốt từ năm 1970 đến năm 1973, chính quyền Cairo không ngừng thương lượng với Tel Aviv với hy vọng thu lại được đất đai đã mất trong thế hạ phong. Ai Cập chấp nhận ký hiệp ước hòa bình để Israel rút hết quân khỏi những vùng đất họ chiếm đóng. Tuy nhiên, sau thắng lợi của “cuộc chiến 6 ngày” vào năm 1967 Israel kiên quyết bác bỏ yêu cầu này, Tel Aviv cho rằng quân Do Thái như vô địch trong khu vực và tin rằng khối Ả Rập không dám đối đầu nữa. Mọi cuộc đàm phán đều bế tắc. Tổng thống Sadat nhận định tái chiến tranh là không thể tránh khỏi. Người đứng đầu Syria là Hafez Assad cũng đồng tình vì muốn giành lại cao nguyên Golan đã rơi vào tay Israel. Thế là hai bên nhảy vào cuộc chiến mới.
5. Cuộc chiến thứ năm: Chiến tranh Yom Kippur.
Còn gọi là cuộc chiến năm 1973. Để phá vỡ kế hoạch “chiến tranh tiêu hao”, nhất là “để rửa mối nhục thua trận”, Bộ Tư Lệnh khối Á Rập đưa ra kế hoạch tác chiến, chọn ngày khởi sự là “Ngày Sám hối” (Yom Kippur) của đạo Do Thái, lúc mà mọi người Israel ngừng làm việc, chuẩn bị đến giáo đường để cầu nguyện, các đài phát thanh im tiếng, hệ thống giao thông liên lạc giảm hoạt động, an ninh quốc phòng không còn cảnh giác cao độ như thường lệ.
Vào chiều 6-10-1973 là ngày lễ của Israel, bầu không khí thiêng liêng nhất của năm như thường lệ đột ngột bị ngắt quãng bởi tiếng còi hú dồn dập. Dân Israel nhận được tin quân Ai Cập và Syria đã vượt biên giới tấn công Israel. Lợi dụng giờ phút thiêng liêng nhất của người Israel, khối Á Rập đồng loạt mở cuộc tấn công vào khắp các cứ điểm của Do-Thái. Lúc 1 giờ 55 chiều, quân Syria tung 1.400 chiến xa và hơn 1.000 đại bác vào cao nguyên Golan để tấn công quân Israel chỉ có 180 xe tăng và 50 đại bác. Cán cân chênh lệch quá lớn, cứ 1 Israel phải chống lại 21 Syria, nhất là trong bất ngờ, khiến Do Thái phải lùi dài. Cùng lúc đó, ở mặt trận phía Nam, quân Ai Cập vượt kênh Suez, dễ dàng xuyên sâu vào bán đảo Sinai.
Đối với Israel, tháng 10-1973, chiến tranh Yom Kippur xảy ra bất ngờ và khủng khiếp, đe dọa an ninh, sự sống còn, thực sự là những ngày đen tối của Israel, làm cho cả nước Do Thái khủng hoảng rất lâu sau đó cho dù vào cuối cuộc chiến nầy, Tel Aviv lật ngược tình thế, đánh bật khối Á Rập ra khỏi các vùng chiến sự xảy ra. Người ta đặt câu hỏi: Tại sao tình báo Israel được đánh giá là mạnh nhất vùng lại không biết được việc hai nước láng giềng chuẩn bị chiến tranh và họ đã tiến công chớp nhoáng như vậy?
Thực tế, từ năm 1970 tới nửa đầu năm 1973, khối Ả Rập cứ liên tục đe dọa chiến tranh. Cứ vài tháng, tổng thống Ai Cập Sadat lại công khai tuyên bố sẽ tấn công Israel. Ông ta từng gọi “năm 1971 là năm quyết định", nhưng 1971 qua đi mà không có chuyện gì xảy ra. Đến năm 1972 cũng thế, ông Sadat lại tuyên bố chiến tranh nhưng quân Ai Cập vẫn nằm im. Cho nên đến năm 1973, khi nghe Cairo tuyên bố tấn công, chẳng mấy ai còn tin nữa. Do vậy, Israel xem thường các đợt chuyển quân của Ai Cập, của Syria đến biên giới vào tháng 9/1973 để chuẩn bị cho chiến tranh thực sự. Kế hoạch tác chiến được tuyệt đối giữ kín: ở Ai Cập, trước ngày 1/10/1973, chỉ có Tổng Thống và Bộ trưởng Quốc phòng biết mà thôi. Còn ở Syria, một số nhân vật chủ chốt trong nội các (dưới 10 người) chỉ biết rằng chiến tranh chắc chắn sẽ xảy ra nhưng không biết chi tiết. Khối Á Rập e ngại hệ thống nghe trộm điện tử tinh vi của Israel nên hạn chế tối đa liên lạc, ngay cả qua điện thoại và điện tín. Thêm vào đó, khối Á Rập tung hỏa mù đánh lạc hướng Israel. Ngày khai chiến đã gần kề, giới ngoại giao Ai Cập vẫn không ngừng bày tỏ thiện chí hòa bình với các chính phủ phương Tây. Cairo còn ra lệnh cho các sinh viên sĩ quan trở lại trường vào ngày 9-10, cho sĩ quan được đi hành hương ở Mecca, đài phát thanh Ai Cập còn loan báo 20.000 quân dự bị đã được giải ngũ. Những hành động đó đã làm cho tình báo Israel bối rối do những thông tin họ thu được mâu thuẫn với thực tế mà khối Á Rập đưa ra.
Thực ra, ngay từ tháng 4-1973, mật vụ Do Thái đã có trong tay kế hoạch hành quân chi tiết của chính quyền Cairo và Damascus. Israel đã biết chi tiết rằng sẽ có 2 đội quân của Ai Cập sẽ vượt kênh Suez rồi tiến vào bán đảo Sinai. Sau đó, bộ binh và thiết giáp sẽ đổ quân đánh úp đèo Mitla và cứ điểm chiến lược Gidi. Cùng lúc đó, hải quân và lính dù tấn công Sharm el-Sheikh ở cực Nam Sinai. Họ cũng biết cả kế hoạch hành quân của Syria. Tuy nhiên, sau nhiều lần bị báo động giả và khối Á Rập cứ lại án binh bất động, các nhà lãnh đạo Israel - nhất là các “chính trị gia salon” không tin rằng khối Ả Rập dám tấn công. Đặc biệt, chỉ có Thiếu úy Tình báo Binyamin Siman-Tov là không bị lừa. Anh ta viết liền 2 bản báo cáo dài, phân tích rất rõ về nguy cơ chiến tranh nhưng lời cảnh báo của anh bị thượng cấp bỏ qua. Tuy vậy, một sự kiện xảy ra vào ngày 4/10, làm cho Zvi Zamir, giám đốc cơ quan tình báo Mossad, cảm thấy lo lắng: toàn bộ cố vấn Nga và gia đình đột ngột rời Ai Cập và Syria mà không đưa ra lời giải thích nào, trong khi đó, các vận tải cơ của Nga chở vũ khí, quân trang nối đuôi nhau bay từ Moscow tới Damacus và Cairo.
Vào chiều 5-10, Zamir nhận được tin báo khẩn từ một điệp viên của Israel cho biết chắc chắn Ai Cập và Syria sẽ tấn công Israel nhưng không biết rõ ngày giờ. Vị Giám đốc Mossad liền bay sang châu Âu để xác minh tin trên. Lúc 3h45' sáng ngày 6-10, Zamir gọi điện về cho biết "chiến tranh sẽ xảy ra vào lúc mặt trời lặn". Đây là một sự sai lầm lớn bởi Cairo và Damascus quyết định tấn công sớm hơn vài giờ. Đêm 5-10, ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy quân Ả Rập tập trung nhiều bộ binh cùng chiến xa gần cao nguyên Golan và trên bờ Tây kênh Suez, còn hệ thống phòng không với hỏa tiễn SAM do Nga Sô cung cấp cũng ở trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, Israel vẫn không có phản ứng gì nên khi chiến sự nổ ra, họ không trở tay kịp. Dù vậy, đến gần trưa 6/10, lệnh tổng động viên lực lượng dự bị mới được ban ra. Nội các Israel tranh cãi kịch liệt, xem cần phải phản ứng thế nào trước cuộc xâm lược của khối Á Rập. Nữ Thủ tướng Golda Meir tán thành kế hoạch phản công do Bộ trưởng Quốc phòng Moshe Dayan đề xuất: cần thẳng tay trừng trị người Ả Rập bằng cách đưa quân vào lãnh thổ của họ, đánh ngay vào sào huyệt của họ.
Thủ tướng Golda Meir trấn-an toàn dân trên đài phát thanh với giọng đanh-thép nhưng có vẻ kiềm chế hơn mọi ngày:
-"Không nghi ngờ gì nữa, chúng ta sẽ chiến thắng. Tôi tin rằng Ai Cập và Syria đang hành động hết sức điên rồ".
Thủ Tướng Do Thái, bà Golda Meir
Còn Tướng Moshe Dayan thì lạc quan hơn, ông tin rằng người Ả Rập sẽ không thu được gì trước khi có lệnh đình chiến. Ông ta thừa nhận quân đội Do Thái đang bị dàn mỏng hơn vì quân ít và đất rộng nhưng bán đảo Sinai rất rộng có thể che chắn cho các thành phố của Israel. Dayan nhấn mạnh:
-"Quân Ai Cập sẽ bị đánh bật khỏi bán đảo Sinai ngay khi lực lượng dự bị của Israel tham chiến. Về phần Syria, họ sẽ không bao giờ giành lại được cao nguyên Golan từ tay Israel".
Vừa khai diễn, trận chiến diễn ra ác liệt hơn tướng Moshe Dayan suy đoán. Ở mặt trận phía Nam, Ai Cập điều động 120.000 quân với 2.000 chiến xa và hơn 700 máy bay. Mặt trận phía Bắc, Syria đưa ra mặt trận 6 sư đoàn với hơn 100.000 quân và gần 1.400 chiến xa. Trong hai ngày đầu (6 và 7-10), khắp các mặt trận, quân Israel thua thiệt, tổn thất cao nên phải rút lui dài. Syria chiếm được cao nguyên Golan, thừa thắng tiến vào những khu vực đông dân cư Israel gần biên giới. Trên biển, hải quân Syria sử dụng tàu phóng hỏa tiễn Komar do Nga trang bị. Hải quân Syria tiến vào biển Galilee, uy hiếp các khu định cư người Do Thái ở mạn Bắc, gây nên sự hoảng loạn cho dân Israel. Chiến sự ở kênh đào Suez ác liệt hơn cả. Sau khi đổ quân mà không gặp kháng cự lớn nào, quân Ai Cập lập được một đầu cầu ở Sinai, thả lính dù xuống phía Bắc bán đảo, định cắt đường tiếp tế của quân Israel. Cairo tuyên bố bắn hạ 27 phi cơ Israel, họ cũng bị bắn rơi 15 chiếc Mig. Ở mặt trận kênh Suez, Tướng Moshe Dayan thiệt hại nhiều chiến xa do súng Sagger chống thiết giáp do Nga sản xuất, lợi hại hơn so với nhận định của tình báo Israel. Các dàn hỏa tiễn SAM của Ai cập cũng tạo nhiều khó khăn cho không quân Israel.
Thoạt đầu quân Ai Cập không dám tiến xa vì sợ không được lưới phòng không SAM nằm ở phía bờ bên kia bảo vệ. Trong cuộc chiến Sáu ngày, không quân Israel đánh cho quân Á Rập tơi tả nên lần này Ai Cập và Syria phòng thủ chặt chẽ phòng tuyến của mình bằng các khẩu đội phòng không do Nga cung cấp. Không lực Israel chưa có phương thức chế ngự được các khẩu đội hỏa tiễn SAM của đối phương. Ai Cập dự tính Israel sẽ tung chiến xa để phản kích nên trang bị cho bộ binh súng phóng lựu và hỏa tiễn Sagger chống chiến xa rất nhiều: cứ ba lính Ai Cập thì có một được trang bị hỏa tiễn Sagger. Một sử gia sau nầy viết: "Chưa bao giờ hỏa lực chống chiến xa lại được sử dụng tập trung nhiều đến the." Thêm vào đó, bờ kênh bên phía Ai Cập được đắp cao gấp đôi bờ kênh bên phía Israel, khiến cho Ai Cập có ưu thế để chụp hỏa lực xuống quân Israel. Do vậy, Israel bị tổn thất nặng nề trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.
Tuy nhiên, với tinh thần chiến đấu dũng cảm và lòng quyết chiến một mất một còn, vài ngày sau, quân Israel lấy lại tinh thần, bắt đầu phản công trên khắp các mặt trận. Trên mặt trận Cao nguyên Golan, Syria sử dụng 5 sư đoàn và 188 khẩu đại bác tấn công hệ thống phòng thủ của Israel chỉ có 2 lữ đoàn và 11 khẩu đại bác. Lúc trận chiến khai diễn, 180 chiến xa và 60 đại bác của Israel phải đọ lại với 1.300 chiến xa Syria. Tối 7-10, quân Israel phản công mạnh, đánh bật quân Syria ra khỏi cao nguyên Golan, rồi đẩy dần không ngừng quân Syria lùi về sát Damascus, thủ đô của họ.
Ở mặt trận phía Nam, quân Israel gặp khó khăn hơn, đến giữa tháng 10, quân Israel mới chiếm được thế thượng phong: quân Israel mở Chiến dịch Abiray-Lev ("Quả cảm" hay "Dũng sỹ") để phản công lại Ai Cập và vượt kênh Suez. Đây là trận đánh chiến xa lớn nhất sau thế chiến thứ 2: hai bên tung 1.600 chiến xa ra trận. Ai cập bị thiệt hại nặng với 260 chiếc bị loại khỏi vòng chiến ngay lúc bắt đầu khởi chiến, binh sĩ của Tướng Moshe Dayan tiêu diệt sạch chiến xa của Ai Cập trên mọi mặt trận, vượt qua kênh Suez, cắt đôi Quân Đoàn 2 & 3 của Ai Cập, cắt đứt đường tiếp vận, dồn quân của Sadat vào chân tường, buộc lòng Cairo phải ra lệnh rút lui. Sáng ngày 16-10, quân Israel vượt qua kênh Suez, đến ngày 19-10 tiến chiếm bán đảo Sinai, rồi tiến đến bờ Đông, uy hiếp Cairo. Đến lúc nầy, hai anh lớn Nga Mỹ mới can thiệp, lập cầu không vận tiếp viện cho "gà nhà". Nga lớn tiếng đe dọa sẽ gửi quân tới can thiệp. Còn Hoa Thịnh Đốn thì muốn giữ thế hòa hoãn với khối Cộng nên gây sức ép với Israel, buộc phải ngừng chiến. Ngày 22-10-1973 Hội đồng Bảo an LHQ ra nghị quyết 338 yêu cầu lập tức ngừng xung đột và chiến sự ở mặt trận phía Bắc Israel chấm dứt nhưng quân Israel vẫn tiếp tục tiến quân ở mặt Nam nên ngày hôm sau, 23-10, HĐBA/LHQ lại ra Hiệp ước ngừng bắn số 339. Tuy vậy, cuộc chiến vẫn tiếp tục đến ngày 26-10, bán đảo Sinai và kênh Suez mới im tiếng súng.
Thấy thất bại nặng nề sau mấy lần “đọ sức”, TT Ai Cập Anwar Sadat tuyên bố:
-“Chiến tranh tháng 10 là chiến tranh cuối cùng ở Trung Đông”.
Tháng 11-1973, Sadat “có hành động anh hùng” là “giảng hòa với Israel”, đi thăm Jerusalem (do Israel chiếm đóng). Năm 1979, Sadat ký kết “hiệp ước hòa bình Ai Cập – Israel” với TT Do Thái Beret: “tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh giữa hai nước”. Israel đồng ý trả lại tất cả đất đai mà họ đã chiếm được của Ai cập, bình thường hóa quan hệ song phương. Đây là kế hoạch “dùng đất đai đổi lấy hòa bình” mà 2 bên đều mong muốn. Sau cuộc chiến nầy, Ai Cập tiến gần với Tây phương hơn, họ dần xa khối Cộng vì họ hiểu rõ dã tâm của Nga và không tin tưởng nhiều vào các nước lân bang từng hứa hẹn trước khi lâm trận, để Ai Cập thiệt hại nhiều hơn. Do vậy, các nước nầy bắt đầu có thái độ thù địch với Ai Cập. Điển hình là những người Libya biểu tình rồi tấn công vào tòa lãnh sự Ai Cập, và người Ai Cập cũng làm thế, đã tạo cho hai nước lao vào cuộc chiến kéo dài bốn ngày.
Kết thúc cuộc chiến năm 1973, lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh lập quốc, Israel bị thua thiệt nhiều hơn so với các cuộc chiến trước đó, làm cho người dân thấy sự sống của mình mong manh, lòng tự tin không còn mạnh mẽ như trước. Nhiều người đổ lỗi cho ngành tình báo không thấy được kế hoạch tấn công của đối phương. Tuy nhiên, theo giới phân tích, lãnh đạo cao cấp của Israel cũng phải chịu trách nhiệm bởi họ chủ quan, khinh địch, làm cho 2.700 quân đã nằm xuống, 3.000 người bị thương, thiệt hại ước tính bằng một năm thu nhập quốc nội, nhất là làm cho nội bộ Tel Aviv bị xáo trộn, chia rẽ.
Khối Ả Rập, ngoài Syria và Ai Cập trực tiếp tham chiến, các nước Iraq, Algeria, Ả Rập Saudi, Kuwait cũng gửi quân tới. Chiến phí do Ả Rập Saudi và Kuwait là hai nước giàu có nhờ dầu hỏa đài thọ. Sau xung đột 1973, Ai Cập giành lại một phần bán đảo Sinai; trong những cuộc đàm phán sau đó, Syria đòi được một phần nhỏ cao nguyên Golan. Nga và Mỹ cũng có cơ hội tạo ảnh hưởng cho mình. Dưới sức ép của các cường quốc, Israel, Ai Cập và Syria phải ngồi vào bàn thương thuyết, ký kết hiệp ước bất tương xâm trong năm 1974 và 1975. Ai Cập và Syria phụ thuộc nhiều hơn vào Nga còn Israel được nhận thêm quân viện từ Mỹ. Một kết quả có lẽ quan trọng nhất của cuộc chiến nầy là việc các nước Ả Rập tìm ra một vũ khí mới để gây sức ép với phương Tây, đó là việc cấm vận dầu mỏ đối với các nước ủng hộ Israel, kéo dài từ tháng 10-1973 đến tháng 3-1974. Ở Trung Đông, cứ mỗi lần có khủng hoảng giữa Israel và khối Ả Rập đều có màn cúp dầu để áp lực Mỹ đừng can thiệp nhưng Hoa Kỳ vẫn làm ngơ vì biết Ả Rập chỉ sống bằng dầu, chẳng dám cúp lâu nên đâu lại vào đó. Cũng cần biết thêm chuyện liên quan đến chiến cuộc nầy: Mỹ đã cắt xén quân viện dành cho VNCH, theo đề nghị của Kissinger, một người Mỹ gốc Do Thái, để viện trợ khẩn cấp cho Israel hơn 2,2 tỷ Đô la.
* Tương quan Lực lượng tham chiến: (1) Khối Á Rập (2) Israel.
- Bộ binh: 1.010.000 quân <---> 415.000 quân
- Chiến xa: 8.800 chiếc <---> 2.300 chiếc
- Phi cơ: 999 chiếc <- - > 645 chiếc
- Tàu chiến: 125 chiếc <- -> 38 chiếc
- Đại bác: 800 khẩu <- - > 945 khẩu
* Tổn thất:
- Chết: 15.000 binh sĩ <- - > 2,656 binh sĩ
- Bị thương: 35.000 binh sĩ <- - > 7,250 binh sĩ
- Chiến xa: 2,250 chiếc <- - > 400 chiếc
- Phi cơ: 432 chiếc <- -> 102 chiếc
6. Cuộc chiến thứ sáu: chiến tranh Lebanon năm 1982
Đầu thập niên 70, các lực lượng vũ trang người Palestine từ Jordan chuyển vào miền Nam Lebanon xây dựng căn cứ địa tấn công vào Israel. Vì an ninh và nhất là muốn tiêu diệt các thành phần quân sự Palestine nên Israel đã nhiều lần đưa quân tấn công vào lãnh thổ Lebanon. Ngày 4-6-1982, lấy cớ Đại sứ của họ bị sát hại ở Anh, không quân Israel tấn công du kích quân Palestine ở Nam Lebanon. Hai hôm sau, 2 sư đoàn quân Israel, dưới sự yểm thợ của Không và Hải quân, vượt biên giới, tàn sát quân Palestine, phá hủy tất cả căn cứ của quân Palestine, tiến sát đến thủ đô Beirut của Lebanon, chiếm hơn 300 km2 đất của Lebanon. Ngày 14-6-1982, hơn 30 ngàn quân cùng với chiến xa vượt biên giới, vây hãm phía Tây Beirut, nơi đặt đại bản doanh của quân Palestine. Tại đây, 10 ngàn quân Palestine chống trả quyết liệt nhưng thiệt hại nặng nề do nhiều nguyên do nên sau đó phải rút khỏi Lebanon. Trong 15 đợt rút lui, quân của Palestine phải chuyển tứ tán đến các nước Iraq, Jordan, Syria, Tunesia, Algeria, Sudan, Yemen,... Cuộc chiến tại Nam Lebanon làm 17,825 người Lebanon bị sát hại. Tờ An Nahar ước tính: có 5,515 người (cả quân và dân) Beirut thiệt mạng, 9,797 quân Syria và Palestine chết, 2,513 người chết ở ngoại ô Beirut. Thiệt hại của Israel là 675 quân bị tử trận.
Khi quân Israel tấn công Nam Lebanon thì các lực lượng Israel khác cũng đối đầu với quân Syria rất quyết liệt. Chiều ngày 9-6, 96 chiến đấu cơ F-15, F-16 dưới sự chỉ huy của phi cơ dự báo trên không E-2C của Israel đã oanh kích 19 Đại đội Phòng không của Syria. Syria vội cho 62 phi cơ Mig-21 và Mig-23 lên nghênh chiến. Cuộc không chiến bắt đầu lúc 3:50 chiều, Đến tối, hai bên rút về và ngày hôm sau phi cơ Israel lại tái tấn công và Không quân Syria lại lên không chiến cùng chiến đấu cơ Israel. Sau 2 ngày chiến đấu, phần thắng nghiêng hẵn về phía Israel: 17 trong 19 Đại đội Phòng không của Syria bị san phẳng, 2 Đại đội bị thiệt hại nặng nề, 80 phi cơ Syria bị bắn hạ. Về phía Israel, có 10 phi cơ chiến đấu và trực thăng bị hư hại. Tháng 9-1982, với sự hỗ trợ của quân Mỹ, Lực Lượng Giải Phóng Palestine (PLO) rút khỏi Lebanon. Mãi đến tháng 6-1985, Israel mới rút khỏi Reirut nhưng lấy cớ bảo vệ an toàn cho phía Bắc Israel, họ vẫn còn chiếm đóng “một khu an toàn” (security zone) khoảng 850 km2 miền Nam Lebanon.
Cuộc chiến tranh nầy làm gần 20 ngàn người thương vong, gần 2 triệu người thành người tỵ nạn, không những không giải quyết được vấn đề Palestine mà còn làm cho hận thù 2 bên thêm sâu, làm cho khu vực nầy thêm xáo trộn hơn.
7. Những cuộc xung đột từ sau năm 1982 đến hiện tại.
Sau cuộc chiến năm 1982, các đụng độ giữa Israel và khối Á Rập rất khốc liệt, càng ngày càng đi vào nhiều ngõ quanh lịch sử mới. Nhằm chống lại ý đồ của người Á Rập luôn luôn muốn tiêu diệt dân tộc mình bằng đủ mọi phương thức họ có được, với mọi thủ đoạn kể cả tàn bạo và dã-man nhất, người Israel phải chống lại. Bị khủng bố càng dã man, Israel trả đũa càng dữ dội, tạo cho lò lửa không bao giờ hạ nhiệt. Bao nhiêu quốc gia đứng sau hai phía nầy đã có nhiều cuộc vận động, làm trung gian, hỏa giải, làm áp lực v.v... để có những cuộc gặp gỡ, bàn bạc, ký kết các thỏa ước, nhiều hiệp định nhưng chỉ sau một thời gian rất ngắn thì một trong 2 phe phá vỡ, làm cho chiến cuộc trở lại tồi tệ. Chiến trường chuyển vùng, hình thái chiến trận thay đổi. Cuộc chiến đã xảy ra tại vùng Nam Lebanon trong giai đoạn từ 1982 đến năm 2000 tạo ra một bộ mặt mới cho chiến tranh khu vực. Sau cuộc khủng hoảng Israel - Lebanon 2006, miền đất nóng bỏng nầy lại bị lôi cuốn vào cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ 1, chuyển hướng cuộc đối đầu Israel với khối Hồi giáo qua một hình thái khác. Liên quân tấn công Iraq đã tạo cho Iran thế mạnh, nuôi dưỡng, giúp đỡ các tổ chức Hồi giáo quá khích. Israel và Hoa Kỳ nắm được “thời cơ” là ở Trung Đông, bất cứ nước Hồi Giáo nào cũng đều ghét Ba Tư (Iran) nên khi thấy Do Thái tiêu diệt những đứa con hoang Hamas và Hezbollah của Iran thay họ, nước nào cũng hả dạ, dù ngoài mặt vẫn to tiếng phản đối hành động quân sự mãnh liệt của DoThái.
Ngoại trưởng Condoleezza Rice phải hủy bỏ chuyến công du Đông Nam Á để tới Trung Đông mưu tìm một sự dàn xếp, hóa giải sự bất đồng giữa Mỹ và đồng minh cật ruột là Israel cùng Âu châu và Hồi giáo về cuộc chiến trên. Nước Pháp luôn tìm thời cơ để hưởng lợi khi chiến cuộc Trung Đông tái diễn. Còn nước Đức vẫn không quên thù hận với Irael. Để trả thù việc Đức tàn sát 6 triệu dân Israel, tổ chức “Những Người Bảo Thủ” của Kháng chiến quân Israel được thành lập năm 1941, đã thi hành sứ mệnh cuối cùng sau khi Thế chiến 2 chấm dứt để phần nào làm vơi đi mối huyết hải thâm cừu của đồng bào Do Thái vô tội bị Đức tàn sát: tổ chức nầy đã đầu độc bằng thạch tín, giết 8,000 tù nhân Đức Quốc Xã đang bị giam trong trại Stalag 13 ở Nuremburg vào tháng 6-1946. Việc trả thù nầy được tờ New York Times tường thuật rất sơ sài vào ngày 23-4-1946, qua một bản tin vắn tắt, sau đó chôn vùi theo sự sụp đổ của nước Đức. Mãi tới năm 1998, vụ đầu độc tù nhân Đức nầy được đánh giá là lớn nhất trong chiến tranh hóa học mới được tiết lộ thêm.
Chiến cuộc vùng Trung Đông vẫn nóng cho dù có những thế lực cố gắng “làm giảm nhiệt”. Ngoài Mỹ, Nga, Âu châu ra, gần đây Trung Cộng cũng muốn vươn bàn tay lông lá đến tận đây để tìm lợi nhuận, tạo ảnh hưởng về chính trị và kính tế. Cuốc chiến vùng Vịnh lần 2 tiêu diệt được chế độ bạo tàn Sadham Hussein nhưng lại vô hình chung làm cho Iran vươn dậy, tạo lợi thế để Syria là nơi nuôi dưỡng kháng chiến quân Hồi giáo. Muốn kể chi tiết, không thể trong giới hạn ngắn có thể làm được.
8. Những hệ lụy từ cuộc chiến
Từ những cuộc chiến khốc liệt vừa kể, khu vực Trung Đông nói riêng và thế-giới nói chung đã gặp những nan đề to lớn. Thứ nhất là vấn nạn bạo lực tạo nên nhiều thảm họa. Các tổ chức đấu tranh quá khích không áp dụng những đấu tranh bất bạo lực, đàm phán mà dùng sức mạnh của vũ khí để giải quyết xích mích nầy. Các đội quân nầy áp dụng mọi thủ đoạn nhằm sát hại đối phương, bất kể là thường dân hay trẻ con, áp dụng sách lược “chiến tranh bất cân xứng”. Thứ đến là phong trào “ôm bom tự sát” được các nhóm chủ mưu xúi dục những người cuồng tín hy sinh mạng sống của mình vì những lý-tưởng xa vời mà không cần biết đến mạng sống của bao người vô tội khác. Nguy hại nhất là họ huấn luyện cho trẻ con vì trí óc còn non nớt của chúng dễ bị họ dụ dỗ, phỉnh gạt, dễ đi đến chủ nghĩa cực đoan, dễ dàng trở thành những “chiến binh máu lạnh”. Tại dải Gaza, hình ảnh những người “tử vì đạo” được các tổ chức quá khích tôn vinh khắp nơi. Mới đây, trên một kênh truyền hình của Hamas (Phong trào Kháng chiến Hồi giáo) đã phát đi hình ảnh một cậu bé 10 tuổi dõng dạc tuyên bố:
-“Vì Thánh Allah, chúng ta sẽ tiêu diệt bọn Do Thái”.
Trong con mắt của thiếu nhi và thiếu niên Palestine, người có “quyền lực tối thượng” không phải thầy giáo, cha mẹ... mà là các chiến binh với khẩu súng trên tay.
Các chính sách tuyên truyền do nhóm cầm đầu chính trị người Palestine tiến hành thường mang tính chất “cố ý phân hóa xã hội” về mặt tư tưởng và chính trị. Không những đối đầu với người Israel mà chúng còn bị lôi kéo vào chính trị nội bộ của người Palestine, giữa chiến binh Hamas và phong trào Hồi giáo Fatah (là tổ chức trung thành với Tổng thống Mahmoud Abbas). Tại các cuộc hội họp, những đứa trẻ này cũng đứng theo 2 “chiến tuyến”: một số phất cờ vàng, một số thì cầm cờ xanh, 2 màu cờ của 2 phe phái. Tổ chức Hamas đưa ra khẩu hiệu:
-“Allah là mục tiêu, Nhà tiên tri Muhammad là hình mẫu, Kinh Koran là hiến pháp, thánh chiến là con đường duy nhất và được chết vì Allah là sự thể hiện lòng trung thành”.
Vì thế, Hamas khước từ mọi giải pháp hòa bình, thương thuyết, ngoại giao mà chỉ dùng bạo lực vì họ cho rằng “không có con đường nào khác ngoài việc tiến hành thánh chiến”.
F. KẾT LUẬN.
Sau hơn hai ngàn năm nước mất nhà tan, người dân Israel ly tán, ăn nhờ ở đậu khắp các xứ sở và thường trực bị sống trong thảm nhục diệt chủng, từ đó, nhiều động lực đã thôi-thúc người Israel giành lại được quê cha đất tổ, biến sa mạc hoang sơ từ ngàn xưa cùng vùng đất khô cằn sỏi đá thành những vùng trù phú, hồi sinh và thống nhất cổ ngữ Hébreu, một ngôn ngữ già như trái đất thành quốc ngữ.
Đọc lịch sử phục quốc và kiến quốc của Israel, chúng ta học được rất nhiều điều quí báu: từ tinh thần quốc gia dân tộc đến tinh thần đoàn kết; từ ý chí phục quốc đến đức hy sinh, sức chịu đựng ghê gớm; từ kinh nghiệm định cư, giáo dục đến nông lâm mục súc; từ tổ chức cộng đồng đến tổ chức quân đội v.v... Nhưng 2 bài học cao quí nhất, đó là “cái họa thực dân, đế quốc” và tinh thần “thượng tôn quyền lợi quốc gia”. Thực dân đế quốc nào cũng chỉ nghĩ đến quyền lợi của họ trước hết được che đậy bằng các loại bình phong: bảo hộ, khai hoá, hữu nghị, tương trợ, đồng minh... nên nếu dan díu với họ, không chóng thì chầy thế nào cũng điêu đứng, lầm than, tàn tạ với họ. Nói đến “quyền lợi quốc gia”, không có dân tộc nào hơn dân Do Thái về tinh thần nầy.
Cuộc chiến Israel và khối Á Rập nảy sinh ra câu hỏi: “Cái gì đã tạo ra cái gì?”: Khủng hoảng Israel - Palestine tạo ra sự kỳ thị hay sự kỳ thị là nguyên nhân tạo ra khủng hoảng? Câu hỏi này làm người ta liên tưởng đến 2 chữ ”Trong và Ngoài” trong câu nói của Bapu Mahatma Gandhi: “Những chân lý khác biệt ở vẻ ngoài xem chừng tương tự vô số những chiếc lá trông khác nhau nhưng nằm chung trên một gốc cây”. Vậy ai là kẻ thắng và thủ lợi trong cuộc đối đầu triền miên nầy? Hai câu hỏi nầy là những nan đề mà nhiều người đang tìm lời giải đáp.
Ngoài ra, ngày 14-12-2001, ông Hashemi Rafsanjana, Tổng thống Iran, một lãnh đạo Hồi Giáo được coi là ôn hòa đã công khai đe dọa tấn công Israel bằng nguyên tử: “Nếu một ngày nào đó thế giới Hồi Giáo có trang bị khí giới hạch nhân như Israel hiện có bây giờ...thì chỉ cần một trái bom nguyên tử là có thể quét sạch mọi sự ở Israel. Tuy nhiên nếu bị đánh trả thì thế giới Hồi giáo sẽ chỉ bị tổn thương thôi không thể bị tận diệt được”, được ông Suzanne Fields, một nhà báo Mỹ đã diễn giải ý của Rafsanjani như sau: “Nếu có một cuộc chiến nguyên tử qua lại giữa Iran và Israel thì Iran chỉ mất 15 triệu người, số người hy sinh này quá nhỏ đối với cả tỷ người Hồi Giáo trên khắp thế giới để đánh đổi 5 triệu người Israel” (“Confronting the New Anti-Semitism”, The Washington Times, July 25, 2004). Đó là một tư tưởng kinh tởm, mong một thế giới không có Israel, đó chính là điều mà kẻ thù của Israel cố công nhắm tới để đạt cho được.
-”Cộng đồng Israel đã và đang phải đối diện với đủ thứ áp lực chồng chất đến từ mọi quốc gia, một thứ áp lực liên tục và nặng nề về di dân; đã phải chịu đựng năm cuộc chiến tranh; những pha tấn công bất ngờ và tàn ác của kẻ thù khủng bố, và gần đây nhất lại có trò ôm bom tự sát; luôn luôn bị mặc cảm cô lập ám ảnh và nỗi khốn khổ của một quốc gia nhỏ bé, mỗi thế hệ đều có người thân yêu ra đi vì chiến tranh, chết vì khủng bố tấn công”, đó là lời của sử gia Anh là Martin Gilbert tóm lược những khó khăn mà Israel gặp phải.
Những nhận xét trên đây cũng là lời kết của đề tài nầy mà người viết gởi đến độc giả liên quan đến toàn cảnh của cuộc chiến khốc liệt, triền miên trên vùng đất khô cằn nhưng có một lịch sử đặc biệt. “Nhân loại luôn mong muốn mọi dân tộc sống trong một thế giới hòa bình”: chúng ta hãy vững tin và luôn hy vọng như vậy!
Lê Chánh Thiêm
San Jose 2007 - có hiệu đính
Tài liệu tham-khảo:
- Bài học Israel
- CNN, AP, AFP, BBC
- http://www.mfa.gov.il
Chú thích:
(*) Khác biệt giữa “người Do Thái/ Jews” và “người Israel”.
Đa số cho rằng Do Thái (Jews) hay Israel cũng chỉ là một; điều đó không được chính xác.
Về phương diện nhân chủng, nguyên thủy, người Do Thái là con cháu của 2 chi họ Israel là Judah và Benjamin cộng với một phần đáng kể thứ ba là chi họ tư tế Levi. Còn 10 chi họ khác trong dòng họ Israel nhưng không được biết tới nên chẳng bao giờ được gọi là dân Do Thái.
Về phương diện lịch sử và chính trị, các chi họ ở phương Bắc này tách biệt ra khỏi các chi họ ở phương Nam tức người Do Thái. Người chi họ phương Bắc chiếm cứ phương Nam và lập thành vương quốc Judah, từ đó mới có cái tên Do Thái (Jews). Các chi họ phương Bắc tức vương quốc Israel đã trở thành một quốc gia độc lập, tách ra khỏi nhà Judah vào lúc tên Jews (Do Thái) xuất hiện trong Kinh Thánh. Khi tiếng Jews (Do Thái) xuất hiện lần đầu trong Kinh Thánh thì cũng là lúc Israel có chiến tranh với Do Thái (2 Các Vua (Kings) 16: 5-6).
Như vậy, người Israel không phải là Do Thái. Người Do Thái, là con cháu của vương quốc Judah, thực sự cũng là người Israel nhưng không phải tất cả những người Israel đều là Do Thái. Bởi vì tất cả 12 chi họ người Israel, trong đó có người Do Thái, đều là con cháu của tổ phụ Israel là Jacob. Chúng ta có thể dùng “người Israel” cho tất cả các chi họ, tuy nhiên, tên Do Thái (Jews) chỉ chính xác đối với những người ở phương Nam (và con cháu của họ) lập thành vương quốc Judah.
Chẳng may, ngày nay những người Do Thái (Jews) hiện sinh sống tại tân quốc gia Israel bây giờ, lại thường được gọi là dân Israel.
(1) Sách Der Judenstaat (Quốc gia Do Thái) nêu các quan điểm chính:
-“Người Israel trên thế giới, bất kỳ cư trú trên nước nào đều cấu thành một dân tộc nhưng không thể hòa-hợp với dân tộc phi Do Thái, để thoát khỏi bị bức hại, người Do Thái cần thay đổi địa vị vô quyền và biện pháp giai-quyết thích hợp là xây dựng một gia đình dân tộc Do Thái...”
This article was originally published on 02:23:47 PM, Jan 03, 2007 and has been updated with additional material
Bài này được đăng lần đầu vào lúc 02:23:47 PM, Jan 03, 2007, được sửa đổi và bổ sung thêm chi tiết.
* * *
Xem bài cùng tác giả, click vào đây
Xem trang Kiến thức tài liệu, click tại đây
Trở về trang chính: www.nuiansongtra.com