Nguyễn Vỹ sinh năm 1912 tại Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, mất năm 1971, tại Sài Gòn, trong một tai nạn xe hơi, vừa kịp tới tuổi lục thập.
Cả cuộc đời tròn trèm một hoa giáp, ông đã làm không biết bao nhiêu điều... nhi nhĩ nghịch, đến mức tam tứ phen vào tù. Thời kỳ đầu, ông cắt tóc đi tu, lánh mình chốn cửa Phật, tay lần tràng hạt, miệng tụng nam mô... Rồi như không chịu nổi sự tĩnh lặng, âm u, yếm khí của nhà chùa, ông quyết định phá giới, vứt bỏ tất cả để hoà nhập với đời...Từ một vị chân tu khoác áo cà sa, gọt đầu nhẵn thín, thành thợ gánh cát ở bãi sông, bán kẹo ở Hà Nội... Sức dài vai rộng, chí lớn hiển hiện như chim hồng hộc, khổng tước, đại bàng mà chỉ làm một việc tẻ nhạt là gánh cát thuê, bán kẹo dỗ trẻ con, vừa hèn yếu, lại không thểthoả chí tang bồng, ông bèn bỏ lại mảnh đất nghìn năm văn vật, vào tận Sài Gòn bươn chải kiếm sống... Sau quãng thời gian lăn lộn, bán báo cho các ông chủ bút... vừa tích luỹ vốn sống, vừa học hỏi kinh nghiệm, ông nghiệm ra viết báo cũng chẳng phải điều gì ghê gớm lắm như trước ông thường lầm tưởng, ông bèn "khăn áo gió đưa", quay lại mảnh đất kinh kỳ đô hội để hành nghề viết văn, viết báo, sau đó cùng nhà văn Trương Tửu, nhà thơ nguyễn Bính, Họa sĩ Nguyệt Hồ thành lập nhóm Việt Pháp, ra tờ Le Cygne, do ông làm chủ bút, nhằm truyền bá tư tưởng tiến bộ trong công chúng. Vốn cương trực, thẳng thắn, từng lăn lộn với đời, qua cả chốn thiền tu, tịch mịch cũng như khắp các hang cùng, ngõ hẻm của Sài Gòn, Hà Nội, trong cõi đời ô trọc. Nay lại có nơi chốn để thử sức, ông bộc phát tất cả những gì làm ông bức xúc, khao khát, ngún cháy. Tư tưởng ông lập tức trở thành cái gai trong mắt chính quyền bảo hộ của nhà nước Đại Pháp. Sau bao lần phỉnh nịnh, dỗ dành, doạ nạt không được, chính quyền thực dân đã kết án ông 6 tháng tù giam cùng 3.000 quan tiền phạt. Dĩ nhiên tờ Le Cygne vĩnh viễn bị đóng cửa để làm gương cho tất cả những ai dám nho nhoe công kích chính sách, đường lối cai trị của nhà nước đại Pháp.
6 tháng trôi nhanh như một giấc ngủ ngày, ra tù, trở về, Nhật đã thay thế và hất cẳng Pháp, ông lại tiếp tục cầm bút, coi cây viết như một vũ khí, một hòn than phải cháy hết mình để chống lại chính sách bạo ngược, quân phiệt của quân đội Nhật... Rồi, như một định đề chân lý, trong xã hội cực kỳ bất công phi lý, chỗ đứng tất yếu của những người con yêu chuộng hoà bình, công lý sẽ là cửa nhà tù. Không làm gì để bịt tiếng nói quả cảm, phản kháng của ông, người Nhật lại quyết định tống ông vào tù.
Ra khỏi cổng nhà tù, chán mảnh đất Hà Nội - nơi "réo hồn núi sông" nhiều năm mà không trả được thù, rửa được nhục, ông lại lặn lội vào Sài Gòn làm báo Tổ Quốc, báo Dân chủ, rồi báo Dân ta, để vung cao ngòi bút, tiếp tục đấu tranh không khoan nhượng với chính quyền thuộc địa, bảo vệ quyền lợi cho người dân, cho tới khi tất cả các tờ báo mà ông tham gia cộng tác lần lượt bị đóng cửa... Ngày 7-2-1971 thực sự là ngày định mệnh đối với cuộc đời hừng hực khí thế của ông. Một tai nạn xe hơi trên đường Sài Gòn - Tiền Giang đã cướp ông đi giữa tuổi đời 59. Sau đó trang đời ông mới thật sự nhi nhĩ thuận, đúng với cách nói của người xưa "lục thập nhi nhĩ thuận” (60 tuổi nhìn điều gì cũng thấy thuận).
Với các Bút danh: Tân Phong, Tân Trí, Lệ Chi, Cô Diệu Huyền, ông để lại cho đời một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, bao gồm: Tập thơ đầu (1934); Ðứa con hoang (1936)... Kẻ thù là Nhật Bản (1938), Cái họa Nhật Bản (1938), Hào quang Ðức Phật (1948), Hoang vu (1962) cùng hàng nghìn bài báo lớn nhỏ, mang nặng tính hiện thực phê phán, tố cáo sự thối nát bất công trong xã hội đương thời. Trong số hàng trăm bài thơ ông để lại cho đời, bài "Viết trong lúc say, gửi Trương Tửu", vẫn là bài nổi trội về phong cách, cá tính, gây ấn tượng với bạn đọc hơn cả. Cho dù đã 70 năm trôi qua, nó vẫn giữ nguyên vẹn gía trị phê phán, tố cáo, đặc biệt trong thời buổi lừa dối, nhiễu nhương xã hội chủ nghĩa này
Xin giới thiệu để bạn đọc cùng thưởng thức
ViẾT TRONG LÚC SAY
Gửi Trương Tửu
Nay ta thèm rượu nhớ mong ai
Một mình nhấp chén chẳng buồn say
Trước kia hai thằng hết một nậm
Trò chuyện dông dài mặt đỏ thẫm
Nay một mình ta một be con
Cạn rượu rồi thơ mới véo von
Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác
Mà vẫn coi tiền như cỏ rác
Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang
Rủ nhau chè chén nói huênh hoang
Xáo trộn văn chương với chả cá
Chửi đông chửi tây chửi tất cả
Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê
Bây giờ thời thế vẫn thấy khó
Nhà văn An Nam khổ như chó
Mỗi lần cầm bút viết văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Rồi nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết
Mà thương cho tôi thương cho anh
Ðã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh
Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng
Tôi làm trạng nguyên, anh tể tướng
Rồi anh bên võ, tôi bên văn
Múa bút tung gươm hả một phen
Cho bõ căm hờn cái xã hội
Mà anh thường kêu mục nát thối
Cho người làm ruộng kẻ làm công
Ðều được an vui hớn hở lòng
Bao giờ chúng mình gạch một chữ
Làm cho đảo điên pho lịch sử
Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa
Hất mồ nhổm dậy cười say sưa
Ðể xem hai chàng trai quắc thước
Quét sạch quân thù trên đất nước
Ðể cho toàn thể dân Việt Nam
Ðều được tự do muôn muôn năm
Ðể cho muôn muôn đời dân tộc
Hết đói rét lầm than tang tóc
Chứ như bây giờ là trò chơi
Làm báo làm bung chán mớ đời
Anh đi che tàn một lũ ngốc
Triết lí con tườu, văn chương cóc
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà
Ra chợ bán văn ngày tháng qua
Cho nên tôi buồn không biết mấy
Ðời còn nhố nhăng ta chịu vậy
Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa
Bực chí thành say mấy cũng vừa
Mẹ cha cái kiếp làm thi sỹ
Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ
Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ
Rốt cuộc chỉ còn... mộng với mơ.
Cả bài thơ là một sự tả chân, là thơ mặt phẳng, là hiện thực phê phán xã hội mục ruỗng, thối nát nên không cần phải bình xét, người đọc cũng cảm nhận được nội dung bài thơ một cách thấu đáo. Ðiều tác giả muốn đề cập ở đây là bối cảnh xã hội Việt Nam sau 70 năm (1938 - 2008) vẫn không hề thay đôỉ. Cho dù có ví cánh nhà văn An Nam khổ như chó, cũng không có gì là cực đoan. Cách ví này, nửa thế ký sau ông, nhà thơ, nhà báo Yên Thao (nguyên phóng viên báo Hà Nội mới), đã từng áp dụng và đọc oang oang giữa hội nhà văn Việt Nam trong các kỳ đại hội, thậm chí từ dùng còn mạnh bạo, bộc trực hơn:
Ghét nhau chung chiếu không ngồi
Chung chăn không đắp, chung nồi không ăn
Chỉ riêng cái hội nhà văn
Ghét nhau... như chó, vẫn...lăn lưng vào (!)
Nhà văn Dương Thu Hương trong một bài viết cũng khẳng định ngay cả hội xích lô ba gác cũng tử tế hơn hội viên hội nhà văn Việt Nam với nhau, khi một người không may bị thương, phải đi bệnh viện, tất cả các hội viên đều tự nguyện góp những đồng tiền nghèo nàn, còm cõi của mình để đến thăm người bị nạn. Riêng 700 hội viên hội nhà văn thì...không có được tính qủang đại, hào hiệp ấy. Cho dù trên thi đàn văn học họ có đăng đàn diễn thuyết, hay liên tục kêu gào đi chăng nữa, nhưng mảnh đất độc tài, khô cằn với đồng lương bố thí của đảng (lại không hề đề cao tri thức, nghệ thuật) chỉ có thể đẻ ra các thói đời ti tiện, vụ lợi, cơ hội mà thôi.
Xét về mặt này, Nguyễn Vỹ bản lĩnh, hào phóng hơn hẳn, ít nhất trong cuộc đời làm báo của mình, dù nghèo nàn, so sút, túng kiết, ông cũng đã từng "đi mây về gió", vung tay qúa trán, bóc ngắn cắn dài...
Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác
Mà vẫn coi tiền như cỏ rác
Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang
Rủ nhau chè chén nói huênh hoang
Trong tác phẩm: Nguyễn Bính - Thơ và Ðời (Nhà xuất bản Văn học 2000) Ông Ðỗ Ðình Thọ kể:
-“Một lần René Creyssac - Trưởng phòng Kiểm duyệt báo chí của sở Mật Thám Bắc Kỳ đến trụ sở báo Le Cygne dò xét... Ðể mua chuộc René Creyssac, cả nhóm quyết định rủ y đi nhậu kèm chiêu đãi "nàng tiên nâu"
Vừa bước vào tiệm, nhìn hàng chữ "Phi Yến Thu Lâm" và hình ảnh bày chim yến bay trong rừng thu do chủ tiệm thuê người vẽ minh hoạ, nhằm qủang cáo cho cửa tiệm của mình, René Creyssac xuất khẩu thành... thơ
"Phi yến thu lâm... nghĩ cũng hay"
Sẵn máu văn chương, Nguyễn Bính nối ngay:
"Nằm trên giường, tựa nằm trên mây"
Vốn giỏi tiếng Pháp, lại thêm chất thơ chảy rần rật trong huyết quản Nguyễn Vỹ xuất... chương
"Uyn, Ðơ, Troa, Cát - Ken-cờ-Píp" (quelques Pipes)
Hứng khởi, Nguyệt Hồ kết:
"Quật ngã An Nam, ngã cả Tây"!
Thế là bài thất ngôn tứ tuyệt, liên hoàn của cả bốn người nói về cảnh đèn bàn, thuốc phiện, cùng cái thú "đi mây về gió" đã hoàn chỉnh, thật vui và cũng thật ý nghĩa, hoàn toàn phù hợp với bối cảnh lúc bấy giờ
"Phi yến Thu Lâm... nghĩ cũng hay"
"Nằm trên giường, tựa nằm trên mây"
Một, hai, ba bốn... ôm tẩu hút
"Quật ngã An Nam, ngã cả Tây"!
Tuy nhiên vì sự bạo bút trong phong cách của mình mà cá tính quyết định số phận, ông không thoát khỏi cửa nhà tù của cả Pháp lẫn Nhật. Sau đó phải chuyển sang làm ở nhiều toà báo khác nhau, hết báo tây lại báo ta, hết Sài Gòn lại Hà Nội, hết báo đàn ông, lại đàn bà...
Nhờ Trương Tửu vốn yêu quý và trọng chất nghĩa khí trong con người ông hết mực mà bài thơ còn giữ lại được trọn vẹn 8 khổ 54 câu như thế này, trong thực tế, khi đăng trên trang nhà Phụ Nữ (1938) bài thơ đã bị René Creyssac cắt bỏ 14 câu. Từ câu 26: "Cho bõ căm hờn cái xã hội, đến câu 40: "Hết đói rét lầm than tang tóc"
Từ câu 41 đến câu 54, tâm trạng đau buồn của Nguyễn Vỹ - một thi sĩ bất như ý, không hợp thời, thật trùng hợp với tâm trạng chung của hàng vạn cánh nhà báo Việt Nam hiện tại, dưới ngọn cờ định hướng của đảng:
Chứ như bây giờ là trò chơi
Làm báo làm bung chán mớ đời
Khi đó, tờ báo nơi Trương Tửu là phóng viên có tên là Hữu Ích (do Lê Văn Trương phụ trách) còn Nguyễn Vỹ lúc này là phóng viên của báo Phụ Nữ, do bà Nguyễn Thị Thảo là chủ bút, nên mới có câu:
Anh đi che tàn một lũ ngốc
Triết lí con tườu, văn chương cóc
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà
Ra chợ bán văn ngày tháng qua
Thời nào, dù là phong kiến, đế quốc hay xã hội chủ nghĩa thì nhà văn nhà báo vẫn phải phụng sự một lũ lãnh đạo dốt nát, tham tàn, cho dù tờ báo có lấy tên là "Hữu ích" đi chăng nữa thì cũng chỉ là cái vỏ của ngôn từ mà thôi, còn thực chất bên trong vẫn chỉ là một sự rỗng tuếch, thậm chí còn là... độc hại, hữu hại, như 600 tờ báo của đảng cộng sản Việt Nam.
Con tườu là một tên gọi khác của khỉ, cái lũ đã xấu cả về hình thể, lại chuyên bắt chước, đã thế lại ngộ nhận mình là một bậc sáng tạo, siêu phàm, thông minh, siêu việt...Một sự khiêu khích, lố bịch đến tức cười. Vì vậy triết lí con tườu là thứ triết lí của kẻ chuyên ăn theo, nói leo, bắt chước, không còn một tý nhân phẩm nào, ngược lại chỉ đơn thuần là... hầu phẩm mà thôi.
Văn Chương Cóc là thứ văn chương giản lược, tối nghĩa, không phải thơ mà chỉ còn là thẩn theo kiểu "con cóc nhẩy ra, con cóc nhẩy vào, con cóc nằm im"... chỉ là một thứ cóc cáy, ghẻ lở, không có chút gía trị cả về nghệ thuật cũng như sự thẩm mỹ.
Chính vì não lòng buồn chán, lại muốn thơ phải véo von, ông mới lấy rươụ ra để giải sầu:
Nay một mình ta một be con
Cạn rượu rồi thơ mới véo von
Khổ cuối bộc lộ rõ sự bất phùng thời, cũng là sự bạo bút, đầy cá tính của ông. Ngay cả nghề viết văn, viết báo mà người đời cho là danh giá, bản thân ông cũng nhìn nhận như một nước cờ cao, cuối cùng gặp vận bĩ cũng vẫn... cứ khốn, lại phải cất mồm, vung bút chửi, để giảm thiểu stress.
Mẹ cha cái kiếp làm thi sỹ
Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ
Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ
Rốt cuộc chỉ còn... mộng với mơ.
70 năm đọc lại thơ ông, liên hệ với hoàn cảnh thực tại của cả vạn các nhà văn, nhà báo dưới sự lãnh đạo của đảng, mới thấy kiếp nhà văn Việt Nam thật khổ như chó, khổ hơn cả thời Nguyễn Vỹ. Chí ít, cái còn lại của ông sau bao đau đớn mất mát, ê chề nơi xã hội thối nát, vẫn là "mộng với mơ". Còn nhà thơ Việt Nam hiện tại, trong nền văn nghệ của đảng, với đồng lương chết đói (vẫn cố phải bôi cho đủ tháng) thoả mãn bần cố nông không xong, lấy đâu ra mộng với mơ? Ngược lại chỉ là sự chụp dựt, cơ hội, đục nước béo cò, bán lương tâm để đổi lấy lương tuần (1) mà thôi.
Hà Nội 20-11-2008
Trần Khải Thanh Thuỷ
(Giới thiệu và bình)
(1) Trên thực tế đồng lương của Việt Nam cả tháng, so với thế giới chỉ bằng 2, 3 ngày, chỉ đủ để chi tiêu trong một tuần, nên cán bộ, công nhân, trí thức đều gọi chính xác là lương tuần thay vì nhà nước quy định là lương tháng.
Ghi chú: Bài nầy đăng lần đầu vào lúc 02:14:45 PM, Sep 02, 2009