CỤC IN ẤN VÀ KHẮC DẤU CỦA MỸ
(BUREAU OF ENGRAVING AND PRINTING)
I. Dẫn nhập.
Người Việt-Nam ta có câu: “Biết dễ, làm khó” và câu ngược lại là “Biết khó, làm dễ”. Việc chi tiêu, xử dụng đồng bạc đối với con người, thuộc câu thứ hai, là một việc dễ dàng nhưng ít người "biết" về đồng bạc mà ta dùng nó: từ cách in ra đồng bạc, cách lưu-trữ, trao đổi, chế độ “bản vị” (kim/ ngân bản vị), thị-trường hối-đoái, chứng-khoán giao-dịch,... biết bao nhiêu điều bí ẩn, đó là chưa đi vào lĩnh vực chuyên môn liên quan đến đồng bạc, đến hoạt động của ngân-hàng là cơ-quan mà mọi sinh hoạt đều liên-hệ trực tiếp đến đồng bạc.
Logo của BEP
Trong việc tìm hiểu các hoạt động cần thiết trong đời sống quanh ta, mời quý độc giả theo-dõi bài viết nói sơ lược đến việc in tiền tại Mỹ, một nhu-cầu thiết-yếu của nhân-loại, mà Bureau of Engraving and Printing (BEP) - Cục In ấn và Khắc dấu - đảm trách.
II. Hoạt động.
Trực thuộc Bộ Tài-chánh Hoa-Kỳ, Bureau of Engraving and Printing (BEP), Cục Khắc dấu và In ấn, người Mỹ gọi cơ-quan này với cái tên nôm-na là “nhà máy in tiền” (the money factory), là cơ-quan đảm-trách việc in ra tiền giấy Đô la (Dollar bill) để lưu-hành trên toàn cõi Hoa-kỳ và toàn thế giới.
Hình chụp BEP từ trên không trung vào 1918
Ngoài nhiệm-vụ chính nêu trên, BEP còn có vài nhiệm-vụ khác, như in ra tem thư cho bưu-điện, in các loại giấy tờ cho chính-phủ Mỹ. BEP tọa lạc tại C Street & 14 Street S.W. Washington DC., nằm ở phía Nam Holocaust Museum, số điện-thoại: (202) 447-1391.
Bureau of Engraving and Printing được thành-lập vào ngày 29 tháng 8 năm 1862 trong một căn phòng nhỏ nằm dưới một basement của tòa nhà chính Bộ Ngân-khố có tên là Burea’s Annex trong thời Tổng-thống Franklin D. Roosevelt. Nơi đây, vào lúc đó, một toán gồm hai người đàn-ông và bốn người đàn-bà có nhiệm-vụ niêm-phong bằng tay loại bạc và đã được một nhà băng tư nhân in ra cho chính-phủ Mỹ để chính-phủ phát-hành cho dân chúng xử-dụng. Như vậy, ban đầu BEP có nhiệm-vụ như một nhà kho chứa tiền.
Cửa chính của BEP
Cơ-sở in tiền của BEP ban đầu nằm ở Baronton, Massachusetts. Qua một thời-gian dài, ngày nay, BEP có khoảng 2,700 nhân-viên làm việc tại hai trụ-sở chính: một tại thủ-đô Washington DC., nơi đây làm việc suốt ngày đêm, trung-bình mỗi ngày in ra 22,500 tờ giấy bạc các loại; và một mới thành-lập vào 26 tháng 4 năm 1991 tại thành-phố Fort Worth, thuộc tiểu bang Texas.
Trong lịch-sử của BEP, nhân-viên trẻ nhất làm việc cho BEP là cô Emma S. Brown, được nhận vào làm việc năm 1865 khi cô ta mới 11 tuổi. Nguyên gia-đình cô gồm có 3 người: cô, người anh ruột và người mẹ tàn-phế. Người anh cô ta là một quân-nhân, đang phục-vụ trong “đoàn 188th Pennsylvania Volunteers”, là người cột trụ của gia-đình. Anh trai của cô bị chết trong cuộc chiến khi bao-vây Petersburgh vào tháng 7 năm 1864. Vị dân-biểu đơn-vị của cô Brown khi đó, sau khi nghe tình cảnh cô ta, đã đứng ra bảo-lảnh về chính trị cho cô ta với BEP. Thế là cô được nhận vào làm việc cho BEP để có tiền nuôi sống mẹ già tật nguyền. Cô Emma Brown làm việc cho BEP từ ngày đó và sau 59 năm phục-vụ, bà Brown về hưu vào ngày 24-4-1959.
Sau một thời-gian dài in tiền cho chính-phủ Mỹ, BEP được giao-phó nhiệm-vụ in Revenue stamps vào năm 1876 và sau đó đảm-nhận luôn việc in tem thư cho bưu-điện Mỹ vào năm 1894.
III. Thăm viếng.
Giống như nhiều cơ-quan công quyền quan-trọng của Mỹ khác như Tòa Bạch-Ốc, Ngũ Giác đài, cơ-quan Tình-báo CIA v.v..., BEP mở cửa cho công-chúng tự-do vào thăm và xem mọi hoạt-động của mình. Đây là một truyền-thống đặc-biệt của Mỹ mà không có bất cứ quốc-gia nào có được. Tất cả các quốc-gia khác không cho công-chúng vào xem các hoạt-động của cơ-quan chính-phủ, nhất là các cơ-quan quan-trọng như phủ Tổng-Thống, Bộ Quốc-phòng, các Bộ quan-trong, các cơ-quan tình-báo, an-ninh... vì họ sợ bí-mật bị tiết-lộ nhưng nước Mỹ thì ngược lại.
Việc kiểm-soát khi vào cửa BEP không mấy khó khăn: du-khách chỉ phải qua máy dò kim-loại để kiểm-soát giống như vào bất cứ văn phòng thường nào khác mà thôi. Muốn vào thăm, du-khách đi theo thành từng tour (toán du-lịch). Tour tham-quan BEP gồm có 3 loại:
Cửa vào trên đường C SW của BEP
a- Tour dành cho yếu nhân (VIP):
Tour dành cho yếu nhân (VIP: Very Important Person) có hướng-dẫn viên, lâu khoảng 45 phút, dành cho các Dân-biểu và các Thượng-nghị-sĩ. Có 2 phiên: 8 AM và 8:15 AM, từ thứ Hai đến thứ Sáu. Trong tháng 6 và tháng 7 có tour 4 PM. Muốn tham-gia phải ghi danh trước tại văn-phòng Thượng viện hay Hạ viện.
b- Tour dành cho công chúng:
Tour dành cho công chúng lâu khoảng 35 phút mỗi ngày từ 9 AM đến 2 PM, từ thứ Hai đến thứ Sáu, dành cho cá-nhân, gia-đình hay nhóm. Từ tháng 6 đến tháng 8 còn có tour từ 5 PM đến 6:40 PM.
c- Tour dành cho nhóm trường học:
Đây là một chương-trình mới được thực-hiện, các trường học thuộc Washington D.C. và các vùng phụ-cận (Maryland, Virginia) là các đơn-vị hưởng chương-trình này đầu tiên. Muốn tham-gia chương-trình này, các trường phải điền một mẫu đơn gọi là "School Group Reservation Request Form" gởi đến BEP ít nhất là 4 tuần-lễ trước ngày tham-quan. Điện-thoại của chương-trình này là (202) 874-2155.
Mọi chương-trình tham quan BEP đều hoàn-toàn miễn phí. Có người khôi-hài, dí-dỏm về vấn-đề miễn lệ-phí vào cửa khi thăm viếng nơi đây đã nói: “Ở đây họ in quá nhiều tiền nên đâu thèm mấy đồng tiền lẻ của du khách”. Du-khách có thể tham-dự nhiều tour nếu muốn, không hạn chế số lần thăm.
Du khách vào xem hoạt-động của BEP được phân cách với các cỗ máy in và công-nhân đang làm việc bằng một bức tường bằng kính chạy dọc trên cao để du khách có thể nhìn thấy mọi hoạt-động bên dưới. Du khách có quyền chụp ảnh, quay phim nhưng không được dùng đèn Flash, có lẽ sợ ánh đèn ảnh-hưởng đến công-nhân đang làm việc bên dưới.
Cửa vào trên đường 14th SW của BEP
Du khách cũng có thể dừng lại bất cứ đâu, trong bao lâu nếu họ muốn trong suốt tour của mình. Một hệ-thống phóng thanh đặt dọc theo hành-lang để hướng-dẫn, giải-thích chi-tiết cho du-khách mọi hoạt-động trong việc in ra tờ giấy bạc. Mọi thắc-mắc được các hướng-dẫn viên chuyên nghiệp của BEP giải-đáp thỏa-đáng cho du-khách.
Nếu có điều kiện, mỗi người trong chúng ta nên đến xem một lần cho biết, để chứng kiến tận mắt và sẽ biết nhiều hơn. Những gì được người viết ghi lại trong bài nầy chưa đầy đủ lắm.
IV. Cách thức in tiền:
Ai ai cũng đều biết xử-dụng tờ bạc nhưng rất ít người biết về lai-lịch tờ giấy bạc mình đang dùng. Một tờ bạc từ lúc chuẩn bị rồi in ra đến khi phát-hành phải qua đến 65 công đoạn: từ lúc chuẩn-bị bản kẽm cho đến khi tờ bạc được xếp thành xấp, đem đi phát-hành.
Bản kẽm thực-hiện bằng phương-pháp thủ công trên một tấm thép có độ mềm để các họa-sĩ vẽ và khắc mọi chi-tiết cần-thiết như ý muốn. Bản kẽm gốc này được cất giữ cẩn-thận để còn dùng lâu dài, (ví dụ như bản kẽm tờ giấy bạc có chân-dung của Tổng-thống Lincoln từ năm 1869 đến nay vẫn còn xử-dụng được).
Khi bản kẽm đã xong, chuyển qua khâu tôi luyện trong điều-kiện về lực nén và nhiệt-độ tối đa. Sau đó được đúc thành khuôn nổi bằng một chất dẽo đặc-biệt trước khi ngâm trong một chất điện-giải. Sau khi được kiểm-soát kỹ càng, khuôn plastic này sẽ được mạ một chất Chrome vĩnh-cữu để chống mòn bản kẽm.
Tờ bạc 100.000 USD, tờ bạc có mệnh giá lớn nhất, phát hành năm 1934
Máy in mà BEP xử-dụng là loại máy in chạy rất nhanh, có công-suất rất lớn, mỗi giờ in được 8,000 tờ khổ lớn. Mỗi tờ giấy in ra bạc phải chịu một sức ép rất lớn là 20 tấn để tạo sự tiếp-xúc chặt-chẽ giữa giấy và mực in. Do vậy, khi ta đặt tay lên mặt trên của tờ giấy bạc mới phát-hành, tay ta có thể cảm-nhận được các hoa-vân, các hình-ảnh và mặt dưới tờ bạc hơi lõm xuống.
Về mặt kỹ-thuật, người ta in mặt sau của tờ giấy bạc trước tiên với mực màu xanh và 24 giờ sau mới in mặt trước tờ giấy bạc với mực màu đen. Mỗi một tờ giấy lớn để in, khi hoàn-tất sẽ thành 32 tờ bạc. Khi đã in hai mặt, nó được cắt làm hai để kiểm-soát. Khi kiểm-soát xong, nó sẽ được đưa qua giai-đoạn in chồng (overprinting) các chi-tiết khác. Series và số của tờ bạc, con dấu của Bộ Tài-chánh được in bằng màu mực xanh.
Có tất cả 9 kho bạc Liên-bang đặt tại: San Francisco, Dallas, Kansas City, Atlanta, Chicago, Saint Louis, Minnesota, Cleveland và Richmond. Mỗi kho bạc này có một con dấu riêng để in lên trên tờ bạc. Các chi-tiết: Con dấu của kho bạc liên-bang, chữ ký của Bộ-trưởng Bộ Tài-Chánh và Giám-đốc kho bạc Liên-bang được in bằng mực đen. Sau đó, tờ giấy được cắt thành nhỏ bằng hai tờ bạc mỗi tấm, xếp thành chồng, mỗi chồng 100 tờ. Cuối cùng chuyển qua dàn máy cắt và niêm thành chồng 100 tờ giấy bạc để phân-phối đến các kho bạc Liên-bang.
Ngoài ra, người ta còn thiết kế các chi-tiết đặc-biệt trên tờ bạc như sợi dây kim-loại nằm giữa hai lớp giấy tờ bạc, các hình chìm trong tờ bạc mà khi nhìn ta không thấy, muốn thấy, ta phải đưa tờ bạc lên nhìn qua ánh-sáng.
Mực in cũng là loại mực đặc-biệt. Giấy in cũng thế, phải chịu đựng các chi-tiết về kỹ-thuật trong qui-trình. Như vậy, mỗi tờ giấy bạc được in ra phải đáp-ứng nhiều nhu-cầu và mỗi ngày một tối-tân hơn để khó có thể làm giả được.
Tuy vậy, tờ bạc phải thích-nghi với các loại máy móc để chúng nhận ra tiền trong các thương-vụ. Các máy bán hàng tự-động, các máy đếm tiền, đổi tiền (changing machines) làm sao biết được tiền thật hay giả? Các loại máy này sẽ “đọc” đồng bạc nhờ “bộ nhớ” (memory chips) về vài chi-tiết trên tờ giấy bạc cũng như các bộ-phận trên máy với tốc-độ đo rất nhanh và chính-xác. Các đặc-tính này giúp máy tính ra chính-xác chiều dài (V=l/t), độ dày (thickness) của tờ giấy bạc.
Ngoài ra, mực để in tiền còn có chứa chất nam-châm (magnetic ink, magnetic particles), các sensors của các loại máy trên sẽ “ngửi” rất nhanh. Như thế, những tờ bạc giả không hội đủ các đức tính trên, các máy sẽ không “ăn” và máy sẽ thải chúng ra ngoài.
Du khách vào thăm BEP ngạc nhiên khi thấy bên cạnh các cỗ máy in có dòng chữ rất dí-dỏm: “TUY RẤT GẦN NHƯNG RẤT XA”. Ngụ ý những dòng chữ này là những công-nhân làm việc “rất gần” những tờ bạc mà nhiệm-vụ họ đang đảm-trách là in ra nhưng thật tế thì “rất là xa” tầm tay của họ, nghĩa là nó không thuộc về họ.
Từ ngày cơ-sở in tiền thành-lập đến nay chưa có một trường-hợp tiêu-cực nào bị phát-giác đối với công-nhân làm việc tại nhà máy in bạc. Các máy camera đặt rãi-rác trong nhà máy sẽ thu hình và truyền về màn ảnh kiểm-soát của bộ-phận an-ninh của BEP, nhân-viên làm việc tại đây biết rất rõ như thế nên không ai dám vi-phạm. Từ năm 1863 đến nay, các loại giấy bạc của Mỹ được in và phát-hành ra tại các nhà máy trực-thuộc BEP tại các chi nhánh vừa nói.
Ngoài nhiệm-vụ in tiền cho chính-phủ Mỹ, BEP còn đảm-nhậm nhiệm-vụ in bạc cho các nước khác: in tiền cho Phi-Luật-Tân vào năm 1928, cho Cuba vào năm 1934, cho Thái-lan vào năm 1945, cho Đại-hàn vào năm 1947 và một số quốc-gia khác.
Trụ sở mới nhất của BEP tại Fort Worth, Texas được chọn từ hơn 80 thành-phố được đề-cử. Qua vòng tuyển chọn lại lần thứ hai, chỉ còn lại 11 thành-phố, dựa trên tiêu chuẩn căn-bản là phải có phi-trường thương-mãi không dừng lại từ các ngân-hàng trung-ương ở Kansas City, Dallas, San Francisco và nhiều chi-nhánh của nó. Mười một thành-phố còn lại là: Dallas, Houston, Fort Worth - TX - Denver - CO, Las Vegas - LV, Salt Lake City - UT - Los Angeles, Oakland, San Diego - CA, Phoenix - AZ và Seattle - WA.
Trong thời-gian tuyển chọn địa-điểm lần này, BEP nhận được 4 đề-nghị tặng đất và xây dựng trụ-sơ của 4 thành-phố. Những đề-nghị được xem xét cẩn-thận và lượng gia, định trước về tiêu-chuẩn. Fort Worth được chọn vì các tiêu-chuẩn: địa dư, an-ninh và sản-xuất dễ-dàng, được chấp-thuận và trở thành trụ-sở phía Tây của BEP. Trụ-sở này nhận nhiệm-vụ in tiền cho các ngân-hàng trung-ương khu vực: Dallas, Kansas City, Atlanta, Chicago, St. Louis, Minnesota, Cleveland, Richmond và San Francisco. Trong năm 1996, trụ-sở này in ra 4.1 tỷ Đô-la.
V. Những chuyện liên-hệ.
Đi vào chi tiết việc tạo ra (create) & phát hành (emission of bank-note) đồng Dollar Mỹ là bước vào “rừng” của những chuyện khó hiểu. Trên nguyên tắc, Bộ Tài Chánh Mỹ (The US Treasury Department) đảm trách việc phát hành tiền ở Mỹ. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ quan nầy chỉ có quyền phát hành tiền “coins” (tiền đúc, tiền “cắc”), nghĩa là đúc (mint) ra tiền “coin” mà thôi. Federal Reserve (FED) mới là cơ quan có quyền phát hành tiền giấy. Trên bạc giấy USD có in hàng chữ “Federal Reserve Note”, trong đó, chữ “note” có nghĩa “a paper acknowledging a debt and promising payment; promissory note”, tức là “tờ giấy nợ”: chính phủ Mỹ nợ FED. Chính phủ Liên Bang Mỹ cần số tiền “chi” dùng nhiều hơn số tiền “thu” vào, (như: tiền được đánh vào mọi sắc thuế, từ đóng góp của mỗi tiểu bang cho Liên bang, từ tiền cho các ngân hàng vay, từ tiền lời trong kinh doanh v.v…) nên phải mượn của FED, cơ quan duy nhất có quyền in ra tiền. Chính phủ ủy quyền cho Bộ Tài Chánh in giấy nợ dưới hình thức “Federal Bonds”, gọi là giấy IOU (I Owe You, chúng tôi nợ anh).
Máy in tiền
Điều cần biết là FED là một cơ quan mang tên là “Liên Bang” (Federal) nhưng không phải của chính phủ Liên bang mà là một công ty độc lập của tư nhân (a corporation independent privately owned). FED gồm có 12 cái FED Bank địa phương (12 regional federal reserve banks), mà mỗi chi nhánh là sở-hữu của những nhà băng tư nhân, thành viên của cái FED địa phương đó. Các FED ở các thành phố: 1- Boston (Massachusettes, MA), 2- New York (New York, NY), 3- Philadelphia (Pennsylvania, PA), 4- Cleveland (Ohio, OH), 5- St Louis (Misouri, MO), 6- San Francisco (California, CA), 7- Richmond (Virginia, VA), 8- Atlanta (Georgia, GA), 9-Chicago (Illinois, IL), 10- Minneapolis (Minnesota, MN), 11- Kansas City (Misouri, MO) và 12-Dallas (Texas, TX).
Lấy thí dụ: FED Bank của New York thì hai đại công ty Citibank và J. P. Morgan Chase Co. nắm đa số cổ phần. Citibank của gia-đình Rockefeller và J. P. Morgan Chase Co. là của gia-đình Morgan. Hai đại gia đình này (trong đó có gia đình Harriman, Kutny và Loeby) và 2 gia đình Carnegie & Rothschild là những thế lực lớn, hầu như nắm nền kinh tế nước Mỹ, được nhiều người gọi là “the Robber Barons” (những Nam-tước trộm cắp). Đứng đầu các nhà tài phiệt là John Pierpout Morgan (chết năm 1913) và John Davison Rockefeller (chết năm 1937), hai tay tài phiệt mạnh nhất nước Mỹ.
Chúng ta biết, sau năm 1964, giấy bạc $100 là tờ bạc lớn nhất được xử-dụng ngoài công chúng. Trước năm 1964, dân chúng Hoa-kỳ đã có dịp xử-dụng các tờ giấy bạc lớn như $500, $1,000, $5,000 và $10,000. Năm 1934 có tờ giấy bạc lớn nhất là $100,000. Sau năm 1964, những tờ giấy bạc lớn kể trên không lưu-hành trong dân chúng mà chỉ được xử-dụng trong các ngân-hàng hay dùng để trao đổi trong các thương-vụ quan-trọng mà thôi. Tuy nhiên, nếu chúng ta muốn có, phải "mua" ở các tay mua bán các đặc phẩm, dĩ nhiên giá sẽ cao hơn giá trị thực và những đồng tiền đó vẫn có giá trị khi chúng ta đem xử dụng ngoài thị-trường.
Từng lô giấy in được đưa vào máy in.
Chân-dung Tổng-thống Washington trên tờ $1 do họa-sĩ H. Bourg vẽ ra. Bên cạnh chân-dung của Tổng-thống còn có hình một con đại-bàng, kim-tự-tháp với một con mắt ở trên đỉnh tháp. Chim đại-bàng đầu trắng (Bald Eagle) là biểu-tượng của nước Mỹ, trên đầu chim có 13 ngôi sao sáng. Ở ngực đại-bàng là một lá chắn có 13 sọc. Chân phải chim cắp cành ô-liu, biểu-tượng của hòa-bình, chân trái cắp 13 mũi tên, biểu tượng của chiến-tranh, đầu mũi tên hướng về cành ô-liu. Vị Bộ-trưởng Tài-chánh Hoa-Kỳ là người quyết-định hoàn-toàn việc chọn chân-dung để in lên tờ bạc, không bắt buộc phải theo một tiêu-chuẩn nhất-định nào cả. Điển hình là Ông Salmon P. Chase, Bộ trưởng Ngân-khố đầu tiên của Hoa-Kỳ trong nội-các của George Washington lại có mặt trên tờ $1,000, một trong những tờ giấy bạc lớn của Mỹ trong khi vị “cha già dân-tộc” (Tổng-thống Washington) chỉ ở trên tờ $1.
Theo thống-kê, cứ 500,000 người dân Mỹ thì có một người có ý định làm bạc giả, vì thế kỹ-thuật in tiền của Mỹ ngày càng phức-tạp hơn để tránh tệ-trạng làm tiền giả, nhất là bọn in bạc giả trên lãnh-thổ Hoa-Kỳ và ở ngoại-quốc. So với năm 1969, đồng Đô-la bây giờ nhỏ hơn trước 1 inch và chiều ngang cũng ngắn hơn 1 inch. Cứ 490 tờ bạc cân nặng 1 pound, cứ 1 triệu tờ cân nặng 1 tấn. Các ngân-hàng dùng phương-pháp “cân” để biết được số tiền cắc thân chủ gởi vào trương-mục của họ, nơi các sòng bài giải-trí cũng cân tiền cắc để trả tiền giấy lại cho khách để tiện dụng. Ngoài ra, tại các ngân-hàng, người ta dùng máy tính tiền để đếm cho nhanh, chính-xác.
VI. Vắn tắt về sức mạnh của tiền tệ.
Sau khi đi vào hoạt động của Bureau of Engraving and Printing (BEP), Cục In ấn và Khắc dấu tưởng cũng nên biết qua tầm quan trọng của “thế lực đen” điều khiển đồng tiền.
1. Những thế lực vô hình bên sau hậu trường tiền tệ.
Đằng sau những tờ giấy bạc chúng ta chi tiêu hàng ngày là cả những thế lực đáng sợ, bí ẩn với quyền lực tuyệt đối, có thể điều khiển cả thế giới. Để có đồng tiền lưu hành ngày nay, biết bao cuộc chiến khốc liệt, không khoan nhượng, dai dẳng, cuộc chiến mà đồng tiền là súng đạn và mức sát thương thật là ghê gớm giữa các ông “trùm tài chính”, “thế lực tài phiệt” mà đứng đầu là gia tộc Rothschild với các thể chế tài chính kinh tế của nhiều quốc gia. Nhóm tài phiệt ngân hàng này đã kiểm soát nguồn cung ứng tiền xuyên quốc gia, bơm hay rút tiền vào các nền kinh tế đang tăng trưởng để rồi cho nổ quả bong bóng kinh tế để thu lợi. Nguồn lợi là dầu khí, bất động sản, công nghiệp quốc phòng, đất nông nghiệp, khoáng sản… được quy đổi thành vàng, tiền mặt tuỳ theo vận trù của họ và họ ngày càng giàu hơn, uy lực củng cố hơn trên thị trường tài chính cũng như trên vũ đài chính trị.
Các trục in của máy in tiền.
Ta hãy nghe Mayer Rothschild, một người trong gia tộc Rothschild nói:
-“Chỉ cần khống chế được quyền phát hành tiền tệ của một quốc gia, tôi sẽ không phụ thuộc vào bất cứ thứ pháp luật nào do ai đặt ra” (trích trong “G. Edward Griffm, Những kẻ đến từ đảo Jekyll (The Creature from Jekyll Island) - American Media, Westlake Village, CA 2002, page 218).
Được biết dòng họ Rothschild xây dựng được một vương quốc tài chính rộng lớn và hùng mạnh nhất trong lịch sử loài người. Năm 1798, Nathan, con trai thứ ba, có tài năng thiên bẩm đáng kinh ngạc về tài chính, là người gan dạ, thông minh nhất trong số 5 anh em trong gia tộc Rothschild, là một chuyên gia ngân hàng có lòng dạ thâm hiểm và cách hành xử quyết đoán cùng những thủ đoạn tinh vi, chưa từng có ai thực sự hiểu được thế giới nội tâm của ông ta - được cha đưa đến Anh từ Frankfurt, Đức để khai phá lĩnh vực ngân hàng của dòng họ Rothschild, do những đặc tính đó, đến năm 1815, ông ta đã trở thành một trong những ông trùm ngân hàng nổi tiếng tại London. Amschel - người anh trai cả - chuyên lo việc điều hành đại bản doanh (M.A Rothschild and Sons) của ngân hàng gia tộc Rothschild tại Frankfurt, Đức; Salomon - người anh trai thứ 2 - đã xây dựng được một chi nhánh ngân hàng khác của dòng họ này ở thành Vienna nước Áo (S.M Rothschild and Sons); còn Calmann - người thứ tư - đã xây dựng một chi nhánh khác ở thành phố Napoli của Ý; và James - người em út - cũng có một ngân hàng ở Paris. Hệ thống ngân hàng do dòng họ Rothschild xây dựng là tập đoàn ngân hàng quốc tế đầu tiên trên thế giới. Như vậy, khi đó, châu Âu xem như nắm toàn vận mệnh kinh tế thế giới mà dòng họ Rothschild nắm cả hệ thống ngân hàng châu Âu, là một thế lực đắng sợ nhất hoàn vũ.
2. Những hành động tiêu biểu.
a. Ám sát các Tổng thống Mỹ chống lại họ.
Ngoài việc gây ra hai cuộc thế chiến khi họ đã tạo nên các biến động chính trị mà nguyên nhân do họ tạo dựng, bơm tiền cho Hitler để phát động thế chiến,... việc các Tổng thống Mỹ bị ám sát cũng đều do âm mưu của thế lực tài chính thế giới điều khiển và thi hành.
Chuyên viên kiểm soát từng tấm giấy in
* Đầu tiên, vị TT thứ 3 của Mỹ là Thomas Jefferson, người từng thấy cái nguy hại cho đất nước và gọi liên đoàn các nhà bank (the banking cartel) là “con quái vật ăn thịt người có cái đầu của con hydra” (hydra là quái vật có 9 cái đầu, chặt cái đầu nào, nó sẽ mọc ra cái đầu khác). TT Jefferson nói:
-“Nếu dân Mỹ để cho ngân hàng kiểm soát việc phát hành tiền tệ của mình, thì trước hết bằng sự lạm phát (inflation) rồi bằng sự kém phát (deflation) các ngân hàng và các công ty (corrporations) sẽ phát triển và tước đoạt hết tài sản của dân, thì con cháu chúng ta sẽ thức dậy vô gia-cư trên cái lục địa mà cha mẹ của chúng đã chiếm được”.
* Vị Tổng Thống thứ 7 của Mỹ, Andrew Jackson (1829-1837), là người quyết liệt nhất tuyên chiến với giới tài phiệt tiền tệ, giới chủ ngân hàng trong vấn đề tài chánh, đến nỗi ông cử đến vị Bộ trưởng Tài Chánh thứ 3 mới “dám” thi hành lệnh của ông nhưng bị giới “tài phiệt ngân hàng” vận động hành lang (lobby) với quốc hội Mỹ để không đồng ý bổ nhiệm ông Bộ trưởng này. Thêm vào đó, họ gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế bằng việc siết chặt sự cung cấp tiền để tạo ra xáo trộn về tài chánh để đổ tội Tổng Thống Jackson. Một năm sau, TT Jackson bị mưu sát bằng 2 phát đạn nhưng ông thoát chết. Tập đoàn tài phiệt tiền tệ tạo ra sự thiếu hụt tiền bạc để khuynh loát và buộc chính phủ thi hành theo điều kiện có lợi cho họ. Tuy vậy, sau cùng thì TT Jackson đã chiến thắng.
Chuyên viên kiểm soát trước khi đưa vào in chính thức.
* Đến T.T. Abraham Lincoln, ông nghĩ nếu không có tiền thì không thể tiến hành chiến tranh, mà nếu vay của ngân hàng quốc tế thì chẳng khác nào tự treo thòng lọng vào cổ mình, nên đã nghe lời Dick Taylor - một người bạn cũ ở Chicago - đề xuất ý tưởng: “chính phủ tự phát hành tiền tệ!”. Chính đề xuất này đã giết chết Lincoln. Bismarck, Thủ tướng nước Đức, sau khi biết ý định muốn “thoát vòng cương tỏa” của các thế lực tài chính thế giới của TT Lincoln, đã nhận xét:
-“Ông ấy (Lincoln) được quốc hội trao quyền vay tiền thông qua việc bán khoản công trái cho người dân, như vậy thì chính phủ và quốc gia sẽ thoát được khỏi cái bẫy cài sẵn của các nhà tài chính nước ngoài. Trong khi họ (các nhà tài chính quốc tế) hiểu rõ được rằng nước Mỹ sẽ thoát khỏi vòng khống chế của họ, thì ngày chết của Lincoln chằng còn mấy xa xôi”.
Sau khi ra sắc lệnh giải phóng nô lệ da đen và thống nhất miền Nam, TT Lincoln đã tuyên bố xoá toàn bộ các khoản nợ chiến tranh mà miền Nam đã phải gánh chịu. Các ngân hàng quốc tế - nơi chu cấp phần lớn tài chính cho miền Nam trong suốt cuộc chiến - đã bị tổn thất nghiêm trọng vì quyết định này. Để trả thù Lincoln, đặc biệt là để xoá bỏ chính sách mới về tiền tệ của Lincoln, họ đã tập hợp các thế lực bất mãn với Lincoln, lập kế hoạch ám sát Lincoln. Họ đã thành công.
Nhân viên kiểm soát bằng mắt
* Còn TT Kennedy, sắc lệnh số 11110 do Kennedy ký chính là “Giấy khai tử” của Kennedy. Năm 1933, sau khi TT Roosevelt giúp các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế huỷ bỏ chế độ "kim bản vị" (bản vị vàng), tiền tệ của Mỹ theo chế độ “ngân bản vị” (bản vị bạc). Từ thập niên 40, người dân Mỹ đã không ngừng chuyển đổi tiền giấy thành tiền bạc và bạc thỏi nguyên chất khiến cho lượng dự trữ bạc trắng khổng lồ của Bộ Tài Chính Mỹ giảm xuống nghiêm trọng. Thêm vào đó, nhu cầu dùng bạc trắng trong công nghiệp điện tử và hàng không vũ trụ phát triển mạnh mẽ vào thập niên 50 đã tăng lên khiến cho tình hình thêm căng thẳng. Đến đầu thập niên 60, khi Kennedy lên nhậm chức, lượng dự trữ bạc trắng của Bộ Tài Chính Mỹ chỉ còn 1,9 tỉ ounce, đồng thời, giá bạc trên thị trường cũng tăng mạnh, một đồng tiền bạc có giá trị 1 Đô-la trước đó đã tăng lên 1,29 Đô-la. Ngay sau khi “chứng chỉ bạc trắng” được hoán đổi thành bạc, “chứng chỉ bạc trắng” tự nhiên bị loại bỏ khỏi dòng tiền tệ. Như vậy, hiệu ứng của quy luật Gresham “tiền xấu đẩy lùi tiền tốt” đã hiện rõ. Việc bảo vệ bạc trắng và phế bỏ chế độ dùng bạc trắng bảo đảm cho tiền tệ đã trở thành tiêu điểm đối đầu giữa Kennedy và các nhà ngân hàng quốc tế. Pháp lệnh 11110 của Kennedy đã ra đời trong bối cảnh như vậy và nó là bản án tử hình của Kennedy.
Trong cái chết của Kennedy có nhiều tình tiết khó hiểu, mù mờ, các lệnh lạc trái ngược nhau, diễn tiến sự việc giữa các lần khai không trùng nhau tạo nên một mớ tin tức làm các nhà điều tra không biết đâu mà kết luận để tìm ra đầu mối, động lực, nguyên nhân v.v... Đến nay, 49 năm sau ngày Kennedy bị bắn chết, cũng chưa rõ nguyên nhân một cách chính thức dù chính phủ Mỹ có lập ra bao nhiêu cuộc điều tra cũng không có kết luận. Nên biết qua vài chi tiết liên quan đến vụ ám sát TT Kennedy: Bà Jacqueline (vợ TT Kennedy) để lại di chúc: “trong vòng 50 năm sau khi bà qua đời (đến ngày 19-5-2044), nếu đứa con trai út của bà tạ thế, bà sẽ uỷ quyền cho thư viện Kennedy công bố một phần 500 trang tài liệu liên quan đến cái chết Kennedy” nhưng đứa con trai của bà đã mất mạng trong một tai nạn máy bay năm 1999.
Năm 1968, Robert Kennedy, em trai của TT Kennedy, ứng cử viên tổng thống của đảng Dân chủ, gần như nắm chắc cơ hội thắng lợi, trong một buổi tiệc mừng thắng lợi, bất ngờ trúng “đạn lạc” và chết ngay giữa đại sảnh. Chỉ trong vòng 3 năm sau khi TT Kennedy bị ám sát, 18 nhân chứng quan trọng lần lượt tử vong (6 người bị bắn chết, 3 người chết vì tai nạn xe hơi, 2 người tự sát, 1 người bị cắt cổ, 1 người bị vặn gãy cổ, 5 người đột tử). Từ năm 1963 (Kennedy chết) đến năm 1993 có 115 nhân chứng liên quan đến vụ ám sát này đã tự sát hoặc bị mưu sát. Nhà toán học người Anh đã viết trên tờ Sunday Times tháng 2-1967 rằng “sác suất trùng hợp như vậy chỉ là 1 phần 100 triệu tỉ”.
Tiền in xong, cắt thành từng series.
* Đến Ronald Wilson Reagan TT thứ 40 của Mỹ bị ám sát cũng do thế lực tài chánh âm mưu thủ tiêu: hy vọng cuối cùng nghiền nát chế độ “kim bản vị” mà Reagan muốn khôi phục. Trước thập kỷ 80 của thế kỷ 20, chế độ “kim bản vị” (dùng vàng để bảo chứng đồng bạc) đã được loại bỏ hoàn toàn, chỉ trừ rất ít quốc gia (như Thuỵ Sĩ) còn giữ. Như vậy, giữa vàng và tiền giấy đã không còn ràng buộc, nhưng các nhà ngân hàng quốc tế không ngớt lo âu vì giá vàng thế giới tăng liên tục trong suốt thập niên 70. Điều này buộc các nhà ngân hàng quốc tế phải tìm mọi cách ưu tiên cho việc ngăn chặn sự phục hồi của chế độ kim bản vị.
Ngày 1-1-1975, để cho mọi người thấy rằng vàng chẳng qua chỉ là một loại kim loại bình thường đồng thời làm tăng thêm niềm tin tuyệt đối của mọi người đối với đồng đô-la Mỹ, chính phủ Reagan đã quyết định bãi bỏ việc “thi thành lệnh cấm người dân Mỹ sở hữu vàng” (các quốc gia khác thì đánh thuế nặng đối với vàng để làm giảm nhu cầu của người dân đối với vàng, có nước thậm chí còn trưng thu thuế “trị giá gia tăng” của vàng lên đến 50%). Dân chúng Mỹ cảm thấy ngỡ ngàng trước dự luật bãi bỏ lệnh cấm đối với vàng. Giá vàng ở mức 400 đô-la Mỹ/ounce, được cho hợp lý thực tế phát hành đồng Đô-la Mỹ từ năm 1933.
Thế nhưng cuộc khủng hoảng con tin Iran nổ ra tháng 11-1979 đã làm thay đổi giá vàng. Khi khủng hoảng Teheran bùng phát, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tuyên bố đóng băng các tài khoản dự trữ vàng của Iran ở Mỹ khiến không những Iran mà các ngân hàng trung ương của các nước trên thế giới thật sự lo âu. Thế là các nước tranh nhau mua vàng và trực tiếp vận chuyển về nước để cất giữ theo sau Iran, Iraq. Hành động nầy chỉ trong mấy tuần, giá vàng đã nhảy vọt lên 850 Đô-la Mỹ/ounce. TT Ronald Wilson Reagan vừa mới lên nhậm chức tin chắc rằng chỉ có việc khôi phục lại chế độ “kim bản vị” mới có thể cứu vãn được nền kinh tế Mỹ nên tháng 1-1981, Reagan đã yêu cầu Quốc hội thành lập “uỷ ban vàng” để nghiên cứu tính khả thi của việc khôi phục kim bản vị, là hành động trực tiếp xúc phạm đến “vùng cấm” của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế.
Ngày 30-3-1981, vừa mới làm Tổng thống Mỹ được 69 ngày, Ronald Reagan đã bị Hinkley bắn trúng tim. Cũng như đa số những kẻ đã từng ám sát các tổng thống Mỹ khác, Hinley cũng bị ghép là “bị bệnh tâm thần”. Viên đạn đã làm Reagan “thức tỉnh” và cũng đã dập tắt hy vọng cuối cùng của việc khôi phục kim bản vị. Tháng 3-1982, “ủy ban vàng“ gồm 17 người, với tỉ lệ phiếu 15/2, đã phủ quyết việc khôi phục chế độ kim bản vị của đồng bạc Mỹ.
Tiền in xong, đưa vào kho.
b. Các biến động khác
Ngoài ra, các cuộc chiến tranh khác cũng do sự giật giây của các nhà tài phiệt tài chính thế giới, từ hai cuộc thế chiến, chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam, hai cuộc chiến tranh Trung Đông đến các cuộc chiến mới đây. Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế là một “tập đoàn lợi ích đặc thù siêu cấp”. Họ không trung thành với bất cứ quốc gia, chính phủ nào mà trái lại họ là lực lượng khống chế các quốc gia và chính phủ. Tùy theo thời kỳ, họ có thể lợi dụng sức mạnh của đồng Đô-la lẫn nước Mỹ nhưng họ có thể tấn công đồng Đô-la Mỹ bất cứ khi nào họ muốn, chẳng hạn họ gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế siêu cấp năm 1929 tại Hoa Kỳ để ảnh hưởng cả thế giới. Họ dùng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 1929 để sai khiến, uy hiếp chính phủ các nước từ bỏ chủ quyền thi hành chính sách tiền tệ khu vực.
Theo các nhà chuyên môn, qua kinh nghiệm và các tài liệu thì hiện nay, tấn công hệ thống tài chính Trung Cộng là nhiệm vụ chính của tập đoàn tài phiệt tài chính thế giới. Việc làm nầy không còn là nghi vấn "xảy ra hay không?" mà là “khi nào?” và “bằng cách nào?”. Chiến thuật của họ có thể giống với chiến thuật đã sử dụng trong cuộc tấn công vào Nhật Bản trước đây. Đầu tiên, họ sẽ tạo nên hiện tượng bong bóng siêu cấp trong nền kinh tế Trung Cộng. Với sự “hỗ trợ” của họ, nền kinh tế Trung Cộng sẽ có thời kỳ phồn thịnh trong mấy năm, giống như ở Nhật trong khoảng từ 1985 đến 1990. Kế đó, khi thấy đã đến lúc, họ sẽ ra tay triệt hạ, thực hiện đòn tấn công tài chính, phá huỷ niềm tin của thế giới đối với nền kinh tế Trung Cộng, khiến cho nguồn vốn quốc tế và quốc nội bị đe doạ phải di chuyển tứ tán, rút vốn, thương trường sẽ đổ vỡ. Cuối cùng, họ thu mua tài sản chính yếu của Trung Cộng với giá siêu rẻ, đồng thời tiến hành “giải thể triệt để” nền kinh tế Trung Cộng, hoàn thành bước khó khăn nhất trong quá trình thống nhất thế giới về mặt tài chánh.
Nhiệm vụ nầy thành công hay không chúng ta chưa biết được vì thời gian đó chưa đến nhưng trong quá khứ, các nền kinh tế Đức đã gánh chịu sự chi phối của họ, kinh tế khu vực Tây Âu đã xuống dốc rồi đến Nhật đã không còn vững mạnh như trong thập niên 1980, 1990 nữa đã cho thấy không đi ra ngoài dự tính của họ mấy. Cuộc chiến Iraq lần thứ 2 đã xảy ra không phải vì Mỹ muốn chiếm dầu hỏa của Iraq bởi trong tổng sản lượng dầu hỏa Mỹ nhập của ngoại quốc, số dầu nhập từ Iraq không đáng kể mà đánh Iraq vì chỉ muốn "triệt nguồn năng lượng" cung cấp cho các nhà máy tại Trung Cộng.
Khi Saddam Hussein bị diệt, không biết bao nhiêu nhà máy tại Trung Cộng ngưng chạy vì không còn nhiên liệu. Rồi các "cuộc cách mạng tại Phi Châu" gần đây, nếu không "triệt nguồn khoáng sản cung cấp cho Trung Cộng" thì các biến động đó được xúi giục, giật giây... xảy ra vì mục đích gì? Nếu nói họ vì "nhân quyền", vì "tự do, dân chủ" cho dân châu Phi quả là chuyện khôi hài mà phải hiểu vì quyền lợi của họ nhưng được khoác vào cái áo "nhân đạo" mà thôi.
VII. Lời kết:
Từ khi quốc-hội chấp-thuận câu motto của quốc gia, nó được đưa in ở mặt sau của tờ bạc. Câu motto hiện nay là “In God Wre Trust” (Chúng ta tin ở Thượng-đế). Nhiều người nói đùa khôi-hài, thêm câu “...the others pay cash” (những người khác trả tiền mặt), ngụ ý nói “ngoài Thượng-đế, chỉ tin tiền mặt (không tin ở check, thẻ tín dụng,...)”. Người Mỹ thường có câu nói đùa: “Đa-số phụ-nữ Mỹ thường tự-hào rất ưa thích âm-nhạc, điều đáng tiếc là họ chỉ mê có hai nốt Đô và La” thôi (ngụ ý họ nói: hai nốt nhạc trên ghép lại thành chữ Dollar).
Riêng ông Ralph Emerson, một triết gia cũng là một nhà thơ nổi tiếng của Hoa-Kỳ thì đưa ra một nhận-xét nghe qua rất chua-chát nhưng cũng khá thâm-thúy và thực-tế, đó là: “Người Mỹ có rất ít đức tin, họ chỉ tin vào sức mạnh của đồng Dollar mà thôi!”.
Chi nhánh BEP tại thành phố Fort Worth, Texas.
Không riêng người Hoa-Kỳ tin vào đồng bạc của họ mà mọi người trên thế giới cũng “mê” đồng đô-la không kém, đến khi nào đồng Đô-la không còn là đồng-bạc có giá-trị cao trên thương-trường thế-giới. Và cũng không riêng người Mỹ “yêu” các Tổng Thống của họ (các Tổng thống có hình được in trên các tờ giấy bạc) mà các dân-tộc khác “cũng yêu” cả các vị Tổng Thống Mỹ này.
Người ta kể rằng, đã có một thời gian dài sau tháng Tư đen năm 1975 tại các cửa khẩu, phi trường Việt Nam, dù "cau-có, khó-chịu, vô cảm. mặt lạnh như tiền…" đến mấy đi nữa, các nhân-viên “Hải-quan” của nước Việt-Nam Xã-nghĩa sẽ trở nên dễ chịu, mắt sẽ sáng lên... khi thấy có đồng Đô-la Mỹ kẹp trong Passport của khách nhập cảnh” xuất trình cho họ. Đó là “thủ tục đầu tiên” (nói lái: tiền đâu?) khi muốn nhập vào đất nước nầy, không có ngoại lệ. Các vị Tổng thống Mỹ dù đã chết cũng vẫn còn “có uy”, đáng nễ thật! Quả là “mãnh-lực của Đô-la” có khác!
Lê Chánh Thiêm
5-2003, có sửa đổi.
Tài liệu tham khảo:
- Ask.com, wikipedia.org
- www.moneyfactory.gov
- Currency's wars
- Tài liệu tổng hợp
* * *
Xem bài liên hệ tại đây
Xem các bài khác cùng tác giả tại đây
Trở về homepage www.nuiansongtra.net