Diễn đàn của người dân Quảng Ngãi
giới thiệu | liên lạc | lưu niệm

 April 03, 2025
Trang đầu Hình ảnh, sinh hoạt QN:Đất nước/con người Liên trường Quảng Ngãi Biên khảo Hải Quân HQ.VNCH HQ.Thế giới Kiến thức, tài liệu Y học & đời sống Phiếm luận Văn học Tạp văn, tùy bút Cổ văn thơ văn Kim văn thơ văn Giải trí Nhạc Trang Anh ngữ Trang thanh niên Linh tinh Tác giả Nhắn tin, tìm người

  Đất nước, con người
QUẢNG NGÃI, ĐỊA DƯ CHÍ
TRƯƠNG QUANG
Các bài liên quan:
    SÔNG TRÀ KHÚC
    THÀNH CỔ CHÂU-SA
    MÍA ĐỒNG KÈ, TRE TÂN PHÚ



Nguồn tư-liệu:

Chúng tôi biên soạn phần Quảng-Ngãi dưới đây từ quyển Đại-Nam Địa-dư-chí của Long-Cương Cao Xuân Dục, bản chép tay được lưu-truyền trong tủ sách cổ của ông Nguyễn Đức Tập. Tôi được biết từ nội tổ đến thân-phụ của ông Nguyễn Đức Tập là những vị khoa-bảng của huyện Sơn-Tịnh nên đã thu-tập và bảo-tồn được sách cổ có giá-trị.

Theo Việt-nam Văn-học sử yếu của Dương Quảng Hàm thì đây chắc đúng là quyển Đại-Nam địa-dư-chí ước biên của Cao-Xuân-Dục, và chúng tôi chỉ trích-dịch phần đề-cập đến Quảng-Ngãi mà thôi.

Ông Cao-Xuân-Dục là một bậc trí-thức, một vị Thượng-Thư rất bận công-vụ nhưng ông dành nhiều thì-giờ để nghiên-cứu sách vở và thực-tế; đặc-biệt ông chú-tâm vào sử-ký và địa-lý Việt-Nam. Khi đã nghỉ hưu, ông gom-góp các sách quí và sách ông biên-soạn, thuê người chép tay mỗi sách 5 bản, giao cho con cháu mỗi người giử một bản để bảo-tồn cho đời sau. Do đó chúng ta không có gì ngạc-nhiên về sách chép tay ở thời-đại chưa có được kỹ-thuật ấn-loát, ngoài mộc-bản.

Ông Cao-Xuân-Dục lúc mới xuất-chính làm tri-huyện Mộ-Đức nên hiểu tường-tận về Quảng-Ngãi. Ông có viết một bài tựa cho sách Vũ Man Tạp Lục thư của Tiểu-phú-sứ Nguyễn-Tấn, viết về miền Thượng tỉnh Quảng-Ngãi (còn 2 bài tựa kia là của Hoàng-Cao-Khải và Trương-Quang-Đản).

Đọc Đia-dư-chí Quảng-Ngãi ta thấy qua cách hành-văn hoa-mỹ, ngắn gọn mà nội-dung phong-phú, tác-giả đề-cập đến cả lịch-sử, danh-nhân, thắng-cảnh, thổ-sản, phong-tục, di-tích, địa-thế. . .Từ đó ta có thể nhận thấy được sự đổi thay trên bình-diện qua hai thế-kỷ nhưng ở chiều sâu thì bản-chất Quảng-Ngãi vẫn bất di.

Tác-giả và tác-phẩm:

Cao-Xuân-Dục (1842-1923) tự là Từ-Phát, hiệu là Long-Cương, người xã Thịnh-Khánh (nay đổi là Thịnh-Mỹ), huyện Đông-Thành, Nghệ-An.

Ông đậu Cử-nhân năm 1887, đời Tự-Đức làm quan đến Thượng-thư bộ Học kiêm Tổng tài Quốc-sử-quán, tước An-Xuân-Tử. Trong thời-gian làm Quốc-sử-quán, ông có công tra-cứu lại bộ Đai-Nam nhất thống chí và trước-thuật, biên soạn được nhiều tác-phẩm.

Theo Trần Văn Giáp trong Lược truyện các tác-giả Việt-nam thì Cao Xuân Dục có các tác-phẩm:

- Quốc triều chính biên toát-yếu
- Quốc triều tiền biên toát-yếu
- Quốc triều sử toát-yếu
- Quốc triều luật-lệ toát-yếu
- Hà-nam hương thí văn thế (1894) và văn tuyển
- Nhân-thế tu tri
- Hạ thọ liên
- Hạ ngôn đăng lục.

Tên sách lấy bút hiệu Long-Cương đứng trước có:

- Long-Cương bát thập thọ ngôn
- Long-Cương văn đối
- Long-Cương đối liên
- Long-Cương lai hạ tập
- Long-Cương hưu đình hiệu tần.

Ba quyển sách của Cao Xuân Dục được biết nhiều nhất dùng làm sách tham-khảo là:

- Quốc triều khoa-bảng lục
- Quốc triều hương khoa lục
- Đại-Nam Địa-dư-chí ước biên.

* * *

Nguyên văn chữ Hán,

Tác-giả: Cao Xuân Dục.
Bản phiên-âm Việt-ngữ của Long-Cương Nguyễn Đức-Tập

Quảng-Ngãi tỉnh
Tiến kinh tam bách bát thập lý

Quảng-ngãi cựu dinh
Chiêm-thành Cổ-Lũy
Trần thuộc Thăng-hoa
Ky my nhi dĩ
Lê sơ vi phủ
Quốc sơ vi dinh
Minh-Mệnh phân hạt
Vi tỉnh thành
Đông hoành Sa đảo
Tây hướng Sơn man
Trường lũy, Thạch tân
Hiểm yếu sở quan
Địa-thế tùy hiệp
Khí mạch phả hậu
Sản xuất anh-hùng
Dân đa my thọ
Địa tích dân cần
Tục bình phù mỵ
Quân tử trọng nghĩa
Tiểu nhân hiệp khí
Sĩ đa tú dĩnh
Công diệc tầm thường
Thị thành cư hóa
Sơn hải hành thương
Sơn danh Thiên-Ấn
Tự điển tải yên
Thủy hữu Trà-Khúc
Thị vi đại xuyên
Sơn xuyên linh tú
Chung vi dị nhân
Nhược Bùi Trấn bắc
Nhược Lê Tả-quân
Nhược Trương tướng công
Bỉnh quốc chi quân
Lưỡng triều cố mệnh
Nhất đại nguyên huân
Khuyết sản danh đằng
Lạp thụ hoàng tâm
Thanh-bồng nhục quế
A-sầm thổ sâm
Phụng du, phong mật
Bố bạch, lăng sa
Thạch đường, hoa tịch
Cam-diêm, khổ trà
Châu-sa cổ thành
Xuân-quang cố lũy
Trấn bắc bình man
Sơn lưu di chỉ

Bản dịch của Trương Quang và Long Cương (0)

Tỉnh Quảng-Ngãi
Đến kinh-đô 380 dặm

Dinh Quảng-Ngãi ngày xưa
Là Cổ-Lũy của Chiêm-Thành
Đời Trần thuộc vào Thăng-Hoa (2)
Chỉ lệ-thuộc lỏng-lẻo
Đầu triều Lê gọi là phủ
Đầu quốc triều gọi là dinh
Đến vua Minh-Mệnh thì chia vùng
Mới lập tỉnh và có thành
Phía Đông ngang Sa đảo (3)
Tây tới núi xứ mọi (Sơn man)
Trường Lũy (4), Thạch tân (5)
Là quan-trọng và hiểm yếu
Địa-thế tuy hẹp
khí mạch lại dày
Sinh ra anh hùng
Nhiều người tuổi thọ
Đất xấu dân cần
Tục thường không hào-nhoáng, mê-hoặc
Người quân tử trọng nghĩa
Kẻ tiểu nhân hay khí-khái
Kẻ sĩ đẹp đẽ, có tài năng
Công nghiệp tầm thường
Hàng hóa trữ ở thị thành
Đi buôn bán khắp cả nguồn, bể
Núi Thiên-Ấn nổi tiếng
Có ghi trong tự điển
Dòng sông Trà-Khúc uốn khúc
Được liệt vào sông lớn
Khí thiêng sông núi
Chung đúc nên người phi thường
Như Bùi Trấn bắc (6)
Như Lê Tả Quân (7)
Như Lê tướng công (8)
Giữ nước cầm quyền
Hai triều là cố mệnh đại thần
Một đời công-lao tột bực
Sản vật nổi tiếng
Có lạp thụ (9) hoàng tâm (10)
Xã Thanh-bồng có quế
Núi A-sầm có thổ sâm
Dầu phụng, mật ong
Vải lụa, the nhiễu
Đường phèn, chiếu hoa
Muối dịu, trà đắng (12)
Ở Châu-sa có cổ thành
Nơi Xuân-quang có cố lũy
Trấn bắc dựng lũy Bình man ngăn mọi
Trên núi còn lưu di chỉ

CẨN ÁN

Quảng-Ngãi cương giới, Đông chí hải, Tây chí Sơn man, Nam chí Bình-Định, Bắc chí Quảng-Nam. Cổ nhật nam quận, hậu vi Chiêm-thành cổ-lũy chi địa. Thời Trần, Hồ Quí Ly thủ chi, trí vi Tư-Nghĩa nhị châu. Thuộc Minh lệ Thăng-hoa. Nhiên đồ tải không danh, thượng thuộc ky my nhi dĩ. Lê Hồng Đức sơ, chinh Chiêm thác địa, trí vi nhất phủ tam huyện, lệ Quảng-đức dinh. Quốc sơ cải kim danh, trí Tuần-vũ, khám-lý. Gia-Long vi dinh, hậu cải vi trấn. Minh-Mệnh phân hạt cải vi tỉnh, trí Bố-chánh, thống ư Quảng-Nam, sa thượng than chi vị hạn. Danh sơn tắc tả hữu phiên bình, đại xuyên tắc tiền hậu cân đái. Ngũ cơ phân trụ dĩ tráng biên thùy, Lục tấn phân phòng dĩ cố cương ngữ. Sơn đầu tứ nguyên, Hán man giao dịch. Tải tân tứ úc, thuyền bạc vãng lai. Châu nhất tỉnh chi hình thắng, vi kỳ phụ chi danh châu dã. Kỳ tục kiệm ước, bình phù mỵ. Quân tử phụ nghĩa, bất tác phi di, Tiểu nhân phụ khí đa trí tranh tụng. Địa thế tuy hiệp nhi khí mạch tối hậu. Sỡ dĩ danh thần túc tướng đa bảo lịnh danh. Kỳ tại hương thôn diệc đa my thọ. Sĩ tắc tú dĩnh, thông đạt giả đa. Công tắc tầm thường, vô đa kỹ nghệ. Bình trù địa thiển, dân đa hành thương. Tập hiếu vu nghiễn, phả thượng ưu xướng. Khánh hạ trai tế, bất lặc cự phí. Diệc khí tập chi sở hựu dã. Hộ khẩu nhị vạn tam thiên ngũ bách nhị thập cửu mẫu. Sơn tắc Thiên-Ấn lộc chẩm khúc giang, sơn đính thản bình, tứ diện đoan chính. Sơn thượng hữu tự, cổ tỉnh tối thâm. Thụ mộc âm sâm, khả cung du lãm. Tích nhân vị chi Thiên Ấn niêm hà, thực vi nhất phương danh thắng dã. Hựu hữu tam-thai thác lạc, thổ sắc lưu đơn, lưỡng thạch sàm nham, thụ âm trích thúy. Thiên bút phê vân chi tú. Kiệt thạch khắc trận chi kỳ. Long đầu hồi khúc, phủ khám thùy uyên. Trân sơn ta nga, hạ lâm vĩnh thủy.

Vân phong chi phí trưng tiêu sắc, hoang như túc vũ tình lưu. Thạch bích chi xán lạn tinh quang, bất sí tịch dương tà quải. Tha như Kỳ-lân, Phụng-hoàng, Tượng mã, Yến qui; la liệt cầm tinh, bàn cố long mạch. Nhi Lý đảo chi đột khởi hải ngoại ước nhất nhật trình. Động tự thanh u, chân số thập lý. Hoàng sa chi bàn hỗ hải trung, diên mậu ước hữu vạn lý, đảo sơn bài liệt, phàm bách dư châu. Thực đảo quốc chi đại quan, vi danh châu chi quản khí dã. Thủy hữu Trà-khúc, nguyên xuất man sơn, kinh lưu Thu phổ, chí vu Phú nhơn hội vu Long đầu chi uyên, chú vu Cổ Lũy chi tấn, thành vi nhất đại xuyên dã. Vệ giang chi nguyên, xuất ư Bình-Định Đồng khố. Châu ổ chi thủy, xuất ư Bình-sơn Thanh bồng, Phú nhơn chú vu Sa tân. Trà Câu chú vu Mỹ Ý. Liên trì ấn nguyệt. An hải sa bàn. Sơn cao khê chi ngư đại như xa luân, vỹ cử thành lôi, khả chiêm tình vũ. Cống khê chi thạch viên như trục quả, trung bàn đại thạch, lưu vi thâm uyên. Danh thắng bất khả tận thuật. Nhân tắc Bùi công tá Hán, tổng Quảng-Nam đạp bình Thạch man, uy vọng tố trứ. Lê Tả quân chi phong vân cảm hội, thỉ thạch truy tùy, thiện chiến năng binh, sở hướng khắc tiệp. Thị nại, Tư hiền chi chiến, thực vi đệ nhất võ công. Trương tướng công chi đãi sự tam triều, vị long thủ quỷ, suy hiền nhượng đức, cử đắc kỳ quan, Thiệu Trị, Tự Đức chi gian, xưng vi nhất thời hiền tướng. Như Vũ văn Giải chi công phú thiết thằng, Trấn tây lập định. Nguyễn Thượng-thư chi Tiểu phủ Thạch-bích, biên kiểu vũ thanh. Thị giai nhất đại hiền năng vi danh châu chi quan niệm dã. Chí nhược vật sản phụng du, phong mật, nhục quế, thổ sâm, thạch đường, lăng-sa; vi lợi diệc bác. Nhi lạp thụ, khổ trà, nãi thổ nghi chi độc yến. Nhược phú Châu sa cổ thành, Lê tam-ti chi vệ sở. Xuân-quang cổ lũy, Quang chiếu vương chi kinh dinh. Cao sơn phế bảo, Trấn bắc công chi di tích chí kim do tồn. Cổ tích sở đương chí dã.
Cao Xuân Dục

Dịch nghĩa:

XEM XÉT, RẰNG:

Cương giới tỉnh Quảng Ngãi, Đông đến biển, Tây đến núi cao người Mọi, Nam giáp Bình-Định, Bắc giáp Quảng-Nam. Xưa thuộc quận Nhật-nam (13), sau là đất Cổ-Lũy của nước Chiêm-thành. Triều-đại nhà Trần, Hồ Quý-Ly đánh lấy, đặt thành 2 châu Tư-nghĩa. Thời Minh thuộc là Thăng-hoa (14) chỉ trên danh nghĩa, sự lệ-thuộc lỏng-lẻo, không ràng-buộc. Đầu đời vua Lê Hồng-Đức (15) đánh Chiêm-Thành mở-mang đất, đặt ra 1 phủ 3 huyện, thuộc vào dinh Quảng-đức. Đến đầu triều nhà Nguyễn mới đổi tên như ngày nay, đặt ra chức Tuần-Vũ, khám-lý. Đời Gia-Long còn gọi là dinh, sau đổi ra trấn. Đời Minh-Mệnh phân chia địa-hạt, đổi là tỉnh, đặt quan Bố-chánh, thống-thuộc đến bãi cát (16) tỉnh Quảng-Nam. Núi cao bên tả bên hữu như bình-phong rào dậu. Sông lớn trước sau tiếp-cận, liền nhau như vạt áo thắt lưng. Năm cơ binh chia đóng để giử vững bờ cõi. Sáu cửa biển chia phòng để bền cương-giới. Miền núi có 4 nguồn (17) cùng người Hán Man giao-dịch. Bờ biển có 4 vũng (18) là bãi bến thuyền-bè đi lại. Quả là một tỉnh có địa-hình tốt, một vùng có tiếng kỳ-phụ. Phong-tục kiệm-ước, thường không xa-xí mê-hoặc. Người quân-tử thì trọng nghĩa, không làm sai quấy. Kẻ tiểu-nhân lại hay khí, thường tranh cãi, kiện cáo. Địa-thế tuy hẹp mà khí-mạch rất dày tốt. Cho nên các danh thần túc tướng đều giử được tiếng tốt. Mà ở thôn làng cũng lắm người sống thọ. Kẻ sĩ tốt đẹp, nhiều người thông-đạt. Công nghiệp tầm-thường, kỹ-nghệ không có mấy. Ruộng đất có ít, người đi buôn-bán thì nhiều. Có thói quen đồng bóng, lại chuộng ca hát. Tiệc khao mừng hay tế lễ chay, không ngại hao tốn. Cũng là do nơi khi tập mà có vậy. Hộ-khẩu có hai vạn 3.524 người (19). Ruộng đất có 5 vạn 829 mẫu. Núi Thiên-Ấn bìa gối sông Trà-Khúc, trên đỉnh bằng phẳng, bốn mặt vuông vức ngay thẳng. Trên núi có chùa, giếng cổ rất sâu (20). Cây to bóng cả um-tùm, đủ cho du-ngoạn. Người xưa gọi Thiên-Ấn niêm hà (Ấn trời đóng trên sông) quả là nơi danh thắng. Lại núi Tam Thai trải xuống, đắt đỏ như son, đá nổi gồ-ghề, cây xanh bóng mát. Vẻ đẹp của Thiên-bút phê vân (bút Trời vẽ mây). Cái kỳ lạ của đá Kiệt thạch dàn quân bày trận (21). Núi Long đầu uốn khúc, dòm xuống vực sâu. Núi Trấn (22) chon von, men xuống bờ Vĩnh-thủy. Hoàng-hôn óng-ánh ở Vân-Phong, tưởng như mưa tạnh đêm qua còn phản-chiếu. Ánh-sáng rực-rỡ nơi Thạch-Bích, khác nào ánh tà-dương treo trên cảnh trí. Ngoài ra, các núi Kỳ-lân, Phụng-hoàng, Tượng-mã, Yến-qui như các linh thú dàn trải để giữ vững long-mạch. Như đảo Lý-Sơn nổi lên ngoài biển, cách bờ chừng một ngày đi thuyền. Chùa hang thanh-u, rộng chừng mấy mươi dặm vuông. Quần đảo Hoàng-sa (3) nối tiếp ngoài khơi, kéo dài chừng vạn dặm, núi đảo la-liệt có hơn trăm hòn. Thực là cảnh-trí hùng-vĩ nơi biển cả, là khí-tượng to rộng cõi danh châu vậy. Sông Trà-khúc, bắt nguồn từ Man-sơn (núi cao có người Mọi), chảy qua Thu-phổ, xuống tới Phú-nhơn-hội ở vực Long-đầu, đổ ra cửa Cổ-Lũy, thật đúng là một dòng sông lớn. Sông Vệ khởi nguồn từ Đồng-Khố, Bình-Định. Nước sông Châu-Ổ (23) nguồn ở Bình-sơn, Thanh-bồng, Phú-nhơn đổ ra cửa Sa-tân (24). Sông Trà-câu chảy ra cửa Mỹ-Ý (25). Liên-trì ấn nguyệt (26) An-hải sa-bàn. Con cá khe Sơn-cao lớn như bánh xe, quẩy đuôi thành sấm, có thể đoán được trời mưa hay tạnh (27). Đá ở suối Cống. Khê tròn như quả bưởi, giữa bờ đá lớn, dòng chảy thành hố vực sâu. Danh-lam thắng-cảnh không kể hết được. Danh-nhân như Búi Tá Hán tiên-công, coi suốt đạo Quảng-Nam (28), dẹp yên giặc mọi Thạch-bích, uy-danh biết bao. Lê Tả quân (7) gặp hội phong-vân, một dạ son-sắt phò-tá, đánh giặc giỏi, dùng binh khéo, ra quân là thắng. Trận Thị-Nại, Tư-Hiền (29) là võ-công hạng nhất. Trương tướng-công (8) làm việc 3 triều, vị cao hàng đầu, tiến-cử người hiền tài, kính nhường kẻ đức cả, nắm giử quyến-bính dưới triều Thiệu-Trị, Tự-Đức, xứng danh lời khen là hiền tướng một thời. Như Vũ Văn Giải đánh phá Thiết Thằng, ổn-định được Trấn tây (30). Nguyễn Thượng-Thư (31) tiểu-trừ và vỗ-về giặc Mọi Thạch-Bích, bờ-cõi được yên. Đó là người hiền-tài một đời, là quan-niệm của vùng đất có tiếng. Đến như sản-vật thì dầu-phụng, mật-ong, quế, sâm, đường-phèn, nhiễu the, làm lợi cũng lớn. Như cây sáp (9), chè đắng (12) là thổ-sản một vùng. Lại nữa, cổ thành ở Châu-sa là vệ sở của Lê tam-ti. Cổ-lũy (lũy xưa) ở Xuân-Quang là nơi mở-mang dinh sở của vua Quang. Chiếu Phế-lũy trên núi cao là di-tích của Trấn-Bắc-công (6) đến nay vẫn còn, cổ tích đều nên ghi lại vậy.

Connecticut, tháng 10-2000.
Trương Quang

Chú-thích:

(0) Xin lưu-ý: Long-Cương là bút hiệu của ông Nguyễn Đức Tập, một nhà giáo theo Tây học còn thông-thạo Hán văn của hôm nay. Ngẫu-nhiên lại trùng tên hiệu Long-Cương của cụ Cao-Xuân-Dục, nhà trí-thức tiền-bối. G/s Tập sinh ra và nhà ở tại vùng Long-đầu, có lẽ do đó lấy chữ Long-Cương.

(1) Kinh-đô triều Nguyễn là thành Phú-Xuân tức Huế, cách Quảng-Ngãi 380 dặm (khoảng 200 km).

(2) và (14) Dưới triều nhà Trần (1225-1400) và thời Minh thuộc (1414-1427) miền đất phía Nam Hải-Vân sơn là châu Thăng-Hoa, bao gồm Quảng-Nam, Quảng-Ngãi ngày nay.

(3) Là quần-đảo Hoàng-sa, cách Đà-Nẵng 370 km, gần với bờ biển Quảng-Ngãi hơn nên triều Nguyễn cho thống-thuộc vào Quảng-Ngãi. Vua Minh-Mạng từng cho quan thuyền ra đấy, đến năm thứ 16 thì sai quan lập miếu thờ, dựng bia và trồng cây quanh miếu. Không rõ từ đời nào đã để lại cái giếng, cái miếu cổ và tấm bia có khắc chữ “Vạn lý bình ba” (muôn dặm sóng êm). Năm 1974, Hải-quân Trung-Cộng (với sự đồng-tình của Phạm-Văn-Đồng, Thủ-tướng Việt-Cộng) đã đánh chiếm quần-đảo Hoàng-sa do quân-lực VNCH trấn giử. Chủ-quyền Hoàng-sa của ta không còn. Ai là quân phản quốc???

(4) Trường-lũy là lũy đá sơn phòng ở Ba-Tơ

(5) Thạch tân là bến đá, nơi giáp Bình-Định.

(6) Là ông Bùi-Tá-Hán, có đền thờ tại thôn Xuân-Phổ và dòng họ Bùi-Tá quần tụ gần ga Quảng-Ngãi.

(7) Là ông Lê văn Duyệt, quán thôn Bồ-Đề xã Đức-Nhuận, Mộ-Đức. Lăng mộ và đền thờ rất uy-nghi của ông tại Sài-Gòn, gọi là Lăng Ông. Ông mất khi đương tại chức Tổng trấn tây thành, quán-xuyến cả Nam phần Việt-nam và đất Cao-Miên. Tả quân là chức vụ khi cầm quân.

(8) Là ông Trương Đăng Quế, có ngôi mộ và đền thờ ông tại thôn Mỹ-Khê, Tịnh-Khê, Sơn-Tịnh, là nơi sinh quán và trí-sĩ của ông. Dòng họ Trương Quang là hậu-duệ của ông hiện-diện khắp nơi, đông nhất là ở Quảng-Ngãi.

(9) Lạp là cây sáp, có lẽ là cây bời-lời, hạt nó ép lấy chất dầu như sáp, để làm đèn sáp.

(10) Hoàng tâm có thể là củ nghệ hay cây gỗ sao (?).

(11) Xã Thanh-Bồng thuộc Trà-Bồng, là miền núi có quế, vừa là dược-liệu vừa là hương-liệu quí.

(12) Khổ trà dịch là trà đắng, đúng là chè phơi khô nấu nước để uống, lúc đầu hơi đắng sau thấy ngọt và sảng-khoái. Nguồn Minh-Long có nhiều chè tươi.

(13) Thời-kỳ Bắc thuộc (111 trước TC đến 39 sau TC) nhà Tây Hán chia nước ta làm 3 quận là Giao-chỉ, Cửu-chân và Nhật-nam. Riêng quận Nhật-nam chỉ có danh mà không có thực, chủ-quyền lúc Chiêm lúc Việt.

(15) Tức vua Lê Thánh-Tôn (1460-1497). Lúc đầu có niên-hiệu Quang-Thuận, từ 1470 đổi hiệu là Hồng-đức. Từ cuộc Nam chinh phạt Chiêm năm 1470 trở đi, đất Quảng-Ngãi mới thực-sự và vĩnh-viễn là của Việt-nam.

(16) Bãi cát địa-đầu 2 tỉnh Quảng-Nam và Quảng-Ngãi là Chu-Lai, địa-giới được xác-định dưới thời Minh-Mạng.

(17) 4 nguồn là Thanh-bồng, Thanh-lặc, Thời-an và An-ba.

(18) 4 vũng là Thanh-thủy, Vĩnh-an, Thuyền-úc và Quất-úc (tục gọi là vũng Quít, nay là Dung-quất). Đến nay thì vũng Sa-huỳnh ở Đức-phổ rộn-rịp nhất vì là nơi giao-điểm đường bộ và đường thủy, núi và biển.

(19) Cuối thế-kỷ 19, dân số Quảng-Ngãi chỉ 23.524 người, cuối thế-kỷ 20 tăng đến 1.054.000 người; ruộng đất thuở ấy là 50.829 mẫu, diện-tích vẫn là 5.825 km2 (thống-kê năm 1996)

(20) Giếng chùa Thiên-Ấn sâu 5 trượng 5 thước (22 mét), đào trong 20 năm. Khi gặp được mạch nước thì nhà sư trẻ đào giếng biệt tăm.

(21) Thắng-cảnh La-Hà thạch trận ở thôn La-hà, Nghĩa-thương, phía Nam thị-xã Quảng-Ngãi 5 km.

(22) Núi Trấn là nơi Trấn-bắc-công Bùi Tá Hán hiển Thánh, người ta chỉ nhìn thấy nhung-y đẫm máu sau trận giặc Mọi trở về, bèn lập đền thờ nên thường gọi là núi Ông, ở cạnh nhà máy Đường ngày nay.

(23) Thường gọi là sông Châu-ổ vì chảy qua thị-trấn Châu-ổ (Bình-sơn). Bản-đồ ghi là sông Trà-Bồng, lấy tên nguồn xuất-phát. Các tên sông Trà-bồng, Trà-khúc, Trà-câu lấy nguồn-gốc từ 4 họ của Chiêm-thành: Ôn, Ma, Trà và Chế.

(24) Sa-Tân là bến sông của cửa biển Sa-Kỳ.

(25) Mỹ-Ý còn được gọi là Mỹ-Á, cửa này một bờ thuộc Hải-tân.

(26) Liên trì dục nguyệt (hay ấn nguyệt), thắng cảnh thuộc Liên-Chiểu, Phổ-Thuận, Đức-phổ. Đây là hồ sen rộng, hoa lá đẹp thơm, nước trong vắt, in dấu mặt Trăng đáy nước. Có vài tuần trong năm, vào lúc mặt-trời lặn, bóng đỉnh núi Xương-Rồng chấm đúng vào hồ Liên-trì nầy.

(27) Tương truyền đó là cá ở vực Bà, miền núi Bình-sơn.

(28) Thế-kỷ 17,18 đạo Quảng-Nam bao gồm cả Quảng-Ngãi.

(29) Cửa Thị-Nại ở Qui-Nhơn, cửa Tư-Hiền ở Thừa-thiên.

(30) Trấn Tây thành là Sài-gòn, Gia-định.

(31) Là ông Nguyễn Tấn, giữ chức Tiểu-phú-sứ, bình-định được miền núi Quảng-Ngãi, dẹp yên mọi Đá-vách (Thạch-bích). Mộ phần ông ở Thạch-Trụ (Mộ-Đức) và dòng họ Nguyễn nầy ở rải-rác khắp nơi.


Bài nầy được đăng lần đầu vào lúc 02:18:59 AM, Aug 02, 2006

 

*  *  *

 

mmmmm

 


Nếu độc giả, đồng hương, thân hữu muốn: 

* Liên-lạc với Ban Điều Hành hay webmaster 
* Gởi các sáng tác, tài liệu, hình-ảnh... để đăng 
* Cần bản copy tài liệu, hình, bài...trên trang web:

Xin gởi email về: quangngai@nuiansongtra.net 
hay: nuiansongtra1941@gmail.com

*  *  *

Copyright by authors & Website Nui An Song Tra - 2006


Created by Hiep Nguyen
log in | ghi danh