Bài “Thơ tình trong trại cải tạo” (cũng gọi “Thắp lại thơ tình”) của Phan Nhự Thức (1942 – 1996) có lẽ chưa bao giờ ra mắt ở dạng bản in (Tập 27 Thư quán Bản thảo (4.2007) do nhà văn Trần Hoài Thư chủ trương, là chủ đề đặc biệt về nhà thơ Phan Nhự Thức, không thấy bài này). Ở đây, xin sao lục theo bút tích trong di cảo.
THƠ TÌNH TRONG TRẠI CẢI TẠO
Đã cạn nguồn thơ từ buổi đó
Buổi xa rừng chim cất giọng khan
Chiếc lồng nhỏ, đời giam bé nhỏ
Cõi ngoài, mưa là dấu chấm than.
Đã biết thuở trăng sa xao xuyến
Nắng bâng khuâng nhớ sáng thương chiều
Cây thôi gọi gió, tình thôi hẹn
Tháng năm qua đời hết chữ yêu.
Chỉ còn lại mẫu đời giản lược
Hòn sỏi kia dạt bãi ngậm ngùi
Phơi lòng khô, con kênh khô nước
Mặt gầy xương vàng vọt tuổi người.
Chỉ còn lại bình phai men rượu
Tên tửu đồ lên núi đốt than
Đã cạn giòng thơ say túy lúy
Quán đời hiu quạnh, mãi đời hoang.
Chỉ còn lại muỗi ruồi ve vãn
Nỗi buồn dài buồn tủi thịt da
Mắt sâu thẳm nửa đời chờ sáng
Một người tù gối mộng xót xa.
Tưởng như thế cho qua ngày tháng
Bỗng một hôm trời trở nắng bâng khuâng
Mối tình cũ vẫy tay lãng mạn
Thơ từ đâu đậu xuống trái tim chàng.
Đôi mắt thuở yêu người bắt gặp
Cười rất tròn, tròn một nét son
Ai ngăn nổi cuối mùa bão rớt
Thành quách kia dù đã điêu tàn.
Tóc người bay lao xao dưới phố
Thoảng hương thơm theo gió bay cho
Gọi nỗi tình cũ ngoài sương gió
Về nâng niu đời đã tiêu hao.
Xưa làm thơ yêu em, nắng dịu
Mưa bay không ướt vở học trò
Giờ làm thơ yêu em, nắng gắt
Mưa tạt lòng, lệ xuống co ro.
Dù có thế nào, thơ vẫn thế
Xin nâng ly mời rượu ân cần
Tình chếch choáng thắp lên cuộc sống
Bồng em qua, tay nở mùa xuân.
Long Sơn, tháng 1.1980
Vẫn Phan Như Thức thời chưa xa lắm, những năm sáu mươi, bảy mươi thế kỷ trước. Vẫn da diết với cuộc đời, đắm say với nghệ thuật. Vẫn đượm tình với những cảnh sắc thiên nhiên, mây ngàn gió núi, màn sương, làn mưa, vầng trăng, ngọn cỏ, con đường, dòng sông...
Như trong bài thơ đằm chín lạ thường “Quảng Ngãi 64” của ông. Ngay trên đất mẹ, không phải ở vùng biên tái xa xôi, hỏa châu thắp đỏ khoảng đêm khói lửa mịt mùng. Người lính chiến mặc khái chiều kích thực tại và bộc bạch tình cảnh đất nước qua lăng kính khác hẳn khuôn sáo của dàn đồng ca tuyên truyền: “Đêm Nghĩa Hưng trời mịt mờ lửa đạn/ chiều Ba Gia xác chết chật đường làng/ ôi kiếp sống bơi quanh bờ hữu hạn/ tìm tương lai trong hiện tại kinh hoàng”. Nghe tâm thế bi tráng của âm ba Đường thi “Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” và cách biệt hẳn với nền văn nghệ lấy ngòi bút là vũ khí, nhà văn là chiến sĩ làm lý tưởng thẩm mỹ. Tan vữa cuộc đời giữa thời tao loạn vẫn nhú mầm hy vọng: tôi khôn lớn từ ruộng đồng Quảng Ngãi lấy đau thương làm sữa mớm thơ mình thành phố ấy với những gì còn lại tôi ấp vào lòng đôi mắt lệ lung linh.
Trở lại bài “Thơ tình trong trại cải tạo” rắn rỏi và gân guốc lạ thường vừa dẫn trên đây. Chiến tranh chấm dứt. Vòng nguyệt quế thuở vàng son đứt gánh lìa quang, tác giả thống khổ với những năm tháng đày ải:
“Thời thế đổi thay, đang giáo sư anh hóa thành người đốn củi nơi rừng sâu thú dữ
Đời bùng cơn gió bụi, hôm kia chủ tịch nay rủng rỉnh đi tù, chỗ gọi rằng cải tạo” (Cung Tích Biền).
Trong u uất tận cùng, nhà thơ bất lực trước trang giấy nhợt nhạt:
Đã cạn giòng thơ say túy lúy
Quán đời hiu quạnh, mãi đời hoang.
Cái đận mưa đòi đoạn sụt “Có những đêm về sáng, đời sao buồn chi mấy cố nhân ơi” cứ dằng dặc thở than:
Chỉ còn lại muỗi ruồi ve vãn
Nỗi buồn dài buồn tủi thịt da
Mắt sâu thẳm nửa đời chờ sáng
Một người tù gối mộng xót xa.
Và kỳ diệu thay, ý tình chừng đứt cạn, bỗng từ đâu vọng ngân vào lời hẹn hò:
Tưởng như thế cho qua ngày tháng
Bỗng một hôm trời trở nắng bâng khuâng
Mối tình cũ vẫy tay lãng mạn
Thơ từ đâu đậu xuống trái tim chàng.
Chìm giữa mưa sa gió táp, tưởng như chán chường và mệt mỏi nhưng... Lửa tình lại thắp, nhà thơ bừng nghe nhịp đập sự sống. Bồi hồi và ngây ngất. Lâng lâng và tha thiết. Ước vọng hiền hòa mà quấn quít:
Dù có thế nào, thơ vẫn thế
Xin nâng ly mời rượu ân cần
Tình chếch choáng thắp lên cuộc sống
Bồng em qua, tay nở mùa Xuân.
Ân Hán nợ Hàn đã vẹn. Phan Nhự Thức nhắm mắt xuôi tay, nhẹ bước rũ áo phong sương:
“Hơn nửa đời mây trời lãng đãng
Trắng hai tay vỗ nhẹ cuộc giang hồ”.
Lời tiễn biệt Phan Nhự Thức (do Cung Tich Biền viết) gợi nhớ năm tháng, biến cố và bạn bè tri giao của những mảnh đời, phận người chìm nổi cùng vận mệnh Phong trần đến cả sơn khê, Tang thương đến cả hoa kia cỏ này (Nguyễn Gia Thiều). Từ sinh hoạt văn nghệ, ra báo, mở trường, pha trộn cảnh đốn củi giữa rừng sâu lạnh lẽo, đến tâm hồn tơi tả, tả tơi quay quắt vì miếng cơm manh áo, dựng chòi tranh vách lá leo lét nghe dế kêu lá rụng nơi Sài Thành đô hội.
Không chỉ thế, lời tiễn biệt lột tả được tính cách người thơ, đánh dấu phần nào sắc màu của một chặng đường đã qua. Và hơn vậy nữa, gieo đọng nỗi thương cảm không những cho “Một người tù gối mộng xót xa” mà bất kỳ kẻ nào vướng vào địa ngục trầm luân đó. Thôi chừng ấy tình người, tình thơ cũng đủ cho khổ lụy đằng đẵng mà về đâu cũng chẳng biết.
NGUYỄN DUY LONG
* * *
Xem các bài cùng tác giả, click vào đây
Trang QN, Đất nước, con người: click vào đây
Trở về trang chính: http://www.nuiansongtra.net