Diễn đàn của người dân Quảng Ngãi
giới thiệu | liên lạc | lưu niệm

 April 04, 2025
Trang đầu Hình ảnh, sinh hoạt QN:Đất nước/con người Liên trường Quảng Ngãi Biên khảo Hải Quân HQ.VNCH HQ.Thế giới Kiến thức, tài liệu Y học & đời sống Phiếm luận Văn học Tạp văn, tùy bút Cổ văn thơ văn Kim văn thơ văn Giải trí Nhạc Trang Anh ngữ Trang thanh niên Linh tinh Tác giả Nhắn tin, tìm người

  Kiến thức, tài liệu
“CUỘC CHIẾN 6 NGÀY” GIỮA ISRAEL VÀ KHỐI Ả-RẬP
LÊ CHÁNH THIÊM
Các bài liên quan:
    LÝ GIẢI VIỆC T.T. TRUMP CÔNG NHẬN JERUSALEM LÀ THỦ ĐÔ CỦA ISRAEL.
    VÌ SAO T.T. DONALD TRUMP GÂY TRANH CÃI KHI CÔNG NHẬN JERUSALEM LÀ THỦ ĐÔ CỦA ISRAEL? (Phương Vũ)
    NĂM MƯƠI NĂM SAU CUỘC CHIẾN SÁU NGÀY
    NHÌN QUA CÁC CUỘC CHIẾN GIỮA ISRAEL VÀ KHỐI Ả-RẬP.
    IRAQ: TRUNG TÂM CUỘC TRANH GIÀNH QUYỀN LỰC KHU VỰC
    TRUNG ĐÔNG: NHỮNG ẢO TƯỞNG VỀ HÒA BÌNH
    GIẢI PHÁP NÀO CHO VIỆC LẬP LẠI TRẬT TỰ Ở TRUNG ĐÔNG?
    KẾ HOẠCH YINON VÀ BIẾN ĐỘNG CHÍNH TRỊ TRONG THẾ GIỚI Ả RẬP
    SỰ KIỆN ISRAEL TẤN CÔNG USS LIBERTY.

 

A. ĐẠI CƯƠNG.

 

Khi đánh giá và phân-tích các cuộc chiến tranh đã xảy ra từ trước đến nay trên vùng đất Trung Đông, nhiều chuyên gia quân sự trên thế giới không ngần ngại xếp các cuộc chiến không khoan nhượng, một mất một còn và dai dẳng giữa Do-Thái và khối Ả-Rập là các cuộc chiến khốc-kiệt nhất, từ tính-chất của cuộc chiến đến những sách lược, không chỉ của các quốc gia tham chiến mà của các khối quân sự bên sau cổ xúy và bảo trợ. Từ khi lập quốc đến nay, Israel đã phải đánh trả khối Á Rập trên nhiều cuộc chiến. Trong bài viết nầy chỉ đề cập đến “cuộc chiến 6 ngày”, cuộc lần chiến thứ 3; đã tạo nên nhiều điểm đặc biệt nhất để chúng ta thấy được lòng quyết tâm của các phía trong cuộc chiến, được các nhà quân sự trên thế giới chú tâm nghiên cứu, học hỏi, đã được gọi là những “bài học”, những “kinh nghiệm”, những “tấm gương” v.v... Để đi vào đề tài, ta hãy nghe nhận định về tính dai dẳng và quyết liệt của cuộc chiến qua lời ông William Faulkner, cư dân của New Albany, Mississippi, Hoa Kỳ, một tiểu thuyết gia nổi tiếng từng đoạt giải Nobel văn chương, về cuộc xung đột giữa Ả-Rập và Israel: "Quá khứ chưa chết, thậm chí nó chưa phải là quá khứ".

 

B. CUỘC CHIẾN 6 NGÀY GIỮA DO THÁI VÀ KHỐI Ả RẬP.

 

1. Sơ lược hai cuộc chiến đầu:

 

Cuộc chiến giữa khối Ả Rập và Israel lần thứ nhất năm 1948, được người Israel gọi là “Chiến tranh giành độc lập” hay “Chiến tranh giải phóng”, còn người Palestine gọi là “al Nakba” (tiếng Ả Rập: cuộc Thảm họa). Quốc gia Israel được thành lập ngày 14-5-1948 sau hơn 60 năm nỗ lực của các nhà lãnh đạo phái Zion (Chủ nghĩa lập quốc Do Thái) nhằm thiết lập chủ quyền và tự quyết trên một Quốc gia Do Thái. Sau nhiều tranh luận gay gắt, vào ngày 29-11-1947, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã bỏ thăm, với 33 phiếu thuận trên 13 phiếu chống (10 phiếu vắng mặt) chấp thuận phân chia xứ Palestine thành hai quốc gia độc lập, một dành cho người Ả Rập, phần kia là của người Do Thái, còn thành phố Jerusalem sẽ thuộc quyền quản lý của Liên Hiệp Quốc (LHQ). Người Do Thái chấp nhận đề xuất này, trong khi người Ả rập tại Palestine phản đối, bác bỏ ý tưởng về một nước Do Thái tại Palestine. Liên-minh Á Rập, lúc đó có 7 nước thành viên, ra tuyên bố:

 

-“Người Á Rập quyết tâm chiến đấu chống lại Nghị quyết của Liên-Hiệp-Quốc phân chia Palestine và tuân theo lệnh của Giáo chủ, chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng”.

 

a. Cuộc chiến lần thứ nhất.

 

Bạo lực giữa cộng đồng Ả Rập và Do Thái nổ ra ngay lập tức sau khi Israel tuyên bố lập quốc. Các lực lượng Ai Cập, Syria, Iraq, Jordan, và Lebanon tấn công Israel từ mọi hướng với dự định bóp chết quốc gia Israel non trẻ. Sớm ngày hôm sau, lực lượng vũ trang chính quy của các nước Ai Cập, Syria, Transjordan (Jordan ngày nay) và Iraq chia nhiều hướng tiến vào bao vây Tel Aviv để hỗ trợ người Ả Rập Palestine. Mở đầu, liên quân Á Rập do Tổng Tư Lệnh Abutula (người Jordan) chỉ huy quân của 5 nước Jordan, Ai Cập, Syria, Lebanon và Iraq cùng với các lực lượng phụ của Á Rập Saudi, Yemen, Palestine, với khoảng 50 ngàn người cùng với chiến xa tràn vào vùng đất Israel. Quân dân Israel gặp nhiều khó khăn, bị thiệt hại ngay lúc ban đầu. Ngày 29-5-1948, Liên Hiệp Quốc đưa ra nghị quyết ngưng bắn 4 tuần để giải quyết. Thời hạn ngưng bắn đã qua mà không giải quyết được gì, chiến sự lại bùng nổ. Những cuộc phản công mạnh mẽ gần Bethlehem đã giúp quân Do Thái xoay chuyển tình thế. Trong khi lợi dụng thời gian ngưng bắn, Israel tăng cường quân số, vũ khí đạn được chiến xa… thì nội bộ khối Á Rập lại chia rẽ trầm trọng, tướng lãnh nản lòng, binh sĩ nhụt chí. Israel tiến chiếm Sinai, dải Gaza, cắt đường tiếp viện và rút lui của quân Ai Cập. Ngày 24-2-1949, Ai Cập ký hiệp định đình chiến với Israel. Tiếp theo sau, các nước khác theo chân: Lebanon vào tháng 3-1949, Jordan vào tháng 4-1949 và Syria vào tháng 7-1949 đều ký hiệp ước đình chiến với Israel.

 

Các hiệp ước nầy mang tên “đình chiến” nhưng thực chất là những “tuyên bố đầu hàng” Israel mà thôi. Điều nầy càng khơi thêm mối thâm thù giữa Israel và khối Á Rập. Trong cuộc chiến liều lĩnh và đẫm máu nầy, Israel đã đẩy lùi các lực lượng thù địch và sau đó tiến quân chiếm một số vùng lãnh thổ vốn được quy định giành cho người Ả Rập. Các thỏa thuận ngừng bắn mặc nhiên công nhận giới tuyến trở thành đường biên giới giữa Israel và các lãnh thổ Ả Rập. Israel kiểm soát toàn bộ lãnh thổ đã được chia cho họ, đa phần số đất của Palestine được phân chia và một số lớn lãnh thổ của người Ả Rập cùng một nửa thành phố Jerusalem. Cuộc chiến tranh 1948-49 làm lãnh thổ Israel tăng thêm 50%, cả phần Tây Jerusalem. Khối Ả rập đã không thể nuốt nước Do Thái mới bởi người Israel chiến đấu hết sức kiên cường cho sự tồn vong của dân tộc. Lòng quyết tâm của họ mạnh hơn quân lực của các nước Ả Rập. Theo quan điểm của người Ả Rập, sự ra đời của Israel là nguyên nhân gây ra “sự tẩy rửa sắc tộc” mà mục tiêu là những người Palestine. Phần còn lại của lãnh thổ được chia cho Palestine được sáp nhập vào các quốc gia láng giềng: Ai Cập chiếm Dải Gaza và Transjordan chiếm Bờ Tây.

 

b. Cuộc chiến lần thứ nhì.

 

Vào tháng 7-1956, tổng thống Ai Cập Gamal Abdel-Nasser quyết định quốc hữu hóa kênh đào Suez dài trên 150 km, nối liền Địa Trung Hải và Hồng Hải, là con đường biển quan trọng về giao thương và cả về quân sự. Thêm vào đó, cuộc chiến tranh lạnh cũng là nguyên nhân khơi nên cuộc chiến năm 1956 khi khối Nga muốn bành trướng ảnh hưởng đến vùng Trung Đông. Trong năm 1955, đụng độ Israel - Ả Rập xảy ra trên khắp vùng biên giới, Tổng thống Nasser còn cho phong tỏa eo biển Tiran, con đường tiến ra Hồng Hải duy nhất của Israel và đưa lực lượng lớn quân đội Ai Cập đồn trú trên bán đảo Sinai, sát nách Do Thái là lý do chính mở màn cho cuộc chiến lần thứ hai, bắt đầu vào ngày 29/10/1956 khi Israel đem quân tấn công vào quân Ai Cập trên khắp các mặt trận.

 

Sau 5 ngày đụng độ, quân Do Thái đã chiếm gần hết bán đảo Sinai, dải Gaza và vô số mục tiêu khác của Ai Cập. Pháp và Anh can thiệp bằng cách trao cho Cairo và Tel Aviv một tối hậu thư đề nghị để Anh Pháp đưa quân vào chiếm đóng kênh Suez rồi thiết lập vùng đệm 16 km ở hai bên bờ hầu ngăn cách lực lượng hai bên. Hai ngày sau, hai nước gửi quân tới kênh Suez, uy hiếp chính quyền Cairo. Trước sức ép của Mỹ làm Anh Pháp đành nhượng bộ. Ngày 22-12-1956 Liên quân Anh Pháp rút khỏi Ai Cập. Người lính Do Thái cuối cùng cũng rời Sinai ngày 8/3/1957. Mỹ buộc Israel trả lại dải Gaza cho Ai Cập, Lực lượng Khẩn cấp của Liên Hợp Quốc được gửi tới để bảo vệ hòa bình. Ai Cập chịu nhiều tổn thất lớn nhất trong cuộc chiến nầy: cơ sở bị hư hại nặng, với 921 người thiệt mạng trong cuộc xung đột nhưng Cairo đã đạt được mục tiêu đề ra: giành quyền kiểm soát kênh đào Suez. Sau xung đột, Ai Cập thân với Nga hơn, còn vai trò của Mỹ lần đầu tiên cũng được thừa nhận do tạo được áp lực tức khắc cho Anh Pháp phải rút quân. Điều này tạo nên học thuyết Eisenhower: Mỹ trợ giúp bất kỳ nước Trung Đông nào bị cộng sản đe dọa.

 

Hai cuộc chiến trên xem như những cuộc chiến mở màn, thăm dò để đôi bên nghiên cứu những sách lược hầu áp dụng cho các cuộc chiến sau đó vì họ biết chắc chắn rằng khó mà tránh khỏi xung đột. Những biến chuyển về nhiều phương diện sau đó là nguyên nhân dẫn đến cuộc chiến mà chúng ta đề cập sau đây, cuộc chiến nổi tiếng nhất giữa 2 khối, tính đến lúc nầy.

 

2. Cuộc chiến thứ ba: Cuộc chiến Sáu Ngày.

 

a. Nguyên nhân:

 

Khi nói đến chiến tranh giữa Israel và khối Á Rập, người ta nghĩ ngay đến “cuộc chiến 6 ngày” vào năm 1967, một kỳ tích mà quân đội Israel thực hiện, không những đã làm khiếp đảm địch quân mà còn là một tấm gương cho bao quân đội có nguy cơ phải tham chiến học hỏi, mang tên “Chiến dịch phòng ngừa chớp nhoáng” (pre-emptive action), một hình thức của sách lược “tiên hạ thủ vi cường”, ra tay trước để chiếm thế thượng phong.

 

Sau cuộc chiến năm 1956, các nhà lãnh đạo Ai Cập luôn có ý định phong tỏa eo biển Tiran, cửa ngõ duy nhất của Do Thái tới Elath để ra Hồng Hải mặc dầu bị Israel đánh bại. Israel bị Mỹ buộc phải rút khỏi nơi chiếm đóng trên phần các đất của các nước thuộc khối Á Rập vì nhiều lý do có lợi cho Hoa Kỳ nhưng Israel luôn muốn đánh bật khối Á Rập nên chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Khi Ai Cập ra lệnh phong tỏa eo biển Tiran vào ngày 23-5-1967, chính quyền Israel ban lệnh khởi động cuộc chiến.

 

Rõ ràng Tel Aviv đã tiến hành một một nước cờ hết sức mạo hiểm khi sắp đặt kế hoạch tấn công các nước Ả Rập. Hành động nầy sẽ mang tiếng là kẻ gây chiến trước nên đứng trước nguy cơ bị cô lập, nhất là một lúc phải thọ địch ở cả 3 phía bằng bộ binh, chỉ sau lưng là biển là không bị tấn công mà thôi. Do Thái chỉ có khoảng 2,5 triệu dân, chống lại liên minh Á Rập gần 150 triệu dân mà chỉ riêng Ai Cập đã có 70 triệu dân, như vậy, một người Israel phải chống lại 60 người Á Rập. Mặt khác, Ai Cập tin tưởng tuyệt đối rằng Nga và khối Cộng sẽ đứng về phe Ả Rập bởi trong một bữa tiệc đón Bộ trưởng Quốc phòng Ai Cập, chính quyền Moscow đã long trọng hứa rằng “Nga sẽ giữ tình thân và tiếp tục giúp đỡ Ai Cập nếu chiến tranh xảy ra”. Riêng Pháp, do bất mãn Mỹ trong cuộc chiến Kênh đào Suez nên ngày 2-6-1967, tổng thống De Gaulle tuyên bố “không tán thành nước nào động thủ trước chứ đừng nói là ủng hộ”. Phần Mỹ, do đang tham chiến tại Việt Nam nên không muốn lò lửa Trung Đông nóng lên. Tuy nhiên, vì sự “sống còn”, Israel buộc phải tiến hành chiến tranh theo dự định vì họ không có lối thoát nào khác.

 

 

Binh sĩ Israel tại Bức tường than thở Jerusalem,

sau khi họ chiếm được nơi này trong "cuộc chiến 6 ngày".

 

b. Tương quan lực lượng và tình hình trước khi súng nổ.

 

Sau khi Ai Cập thắng lợi trong chủ trương quốc hữu hóa kênh đào Suez, buộc Anh, Pháp và Israel phải rút quân và trả lại những vùng đất chiếm đóng sau cuộc chiến Kênh đào Suez dưới áp-lực của Mỹ, khối Ả Rập xem Ai Cập như một quốc gia lãnh đạo, có khả năng cùng họ họ rửa mối nhục thất bại trong cuộc chiến trước đó và tiêu diệt Israel. Năm 1966, Syria ký hiệp ước liên minh với Ai Cập và ngày 31-5-1967, vua Hussein của Jordan gia nhập hiệp ước trên, thành lập một Liên Minh. Sau cuộc đảo chính quân sự tại Syria vào ngày 23-2-1966, chính phủ mới ở Damascus tăng cường liên hệ với Nga, làm cho Israel nóng mặt. Sau khi bắn rơi 6 máy bay Mig của Syria trên bầu trời Syria, phi cơ Israel quần thảo trên bầu trời thủ đô Damascus của Syria vào ngày 7-4-1967. Theo thỏa ước chung được ký kết, quân đội Ai Cập “được cử sang để bảo vệ Syria”. Ngày 13-5-1967, Nga thông báo cho Ai-Cập một tin “tối mật”: “Israel sẽ tấn công Syria vào ngày 17-5-1967”. Ngày 19-5-1967, Ai Cập phong tỏa dải Gaza và vịnh Akaba.

 

Ai Cập đem 270 ngàn quân bố trí sát biên giới với Do Thái, trong đó 100 ngàn quân đồn trú trên bán đảo Sinai, sát nách Israel, xử dụng vũ khí tối tân nhất do Nga và Tiệp Khắc trang bị. Syria đưa 60 ngàn quân đến cao nguyên Golan, Jordan đem 60 ngàn quân đến biên giới, chịu dưới quyền chỉ huy của một tướng Ai Cập. Ngoài ra, Lebanon cũng gửi tới một đạo binh nhỏ còn Iraq, Algeria, Kuwait tuyên bố sẵn sàng viện trợ quân sự khi cần thiết. Theo ước tính, trước khi chiến tranh xảy ra, liên minh Á Rập có khoảng 470 ngàn quân, hơn 2.880 chiến xa và 810 phi cơ đang sẵn sàng tham chiến cùng với rất đông quân trừ bị. Thấy lực lượng của phe mình quá mạnh, trước khát vọng xóa bỏ nước Israel, Tổng thống Ai Cập Nasser tuyên bố thẳng thừng:

 

-"Mục tiêu căn bản của chúng tôi là hủy diệt Israel. Nhân dân Ả Rập muốn chiến tranh".

 

Nasser còn yêu cầu LHQ rút 3.400 binh sĩ thuộc LHQ khẩn cấp khỏi bán đảo Sinai sau chiến tranh 1956. Tình báo Israel thu lượm tất cả tin tức và đệ trình lên bộ máy điều hành chiến tranh. Tel Aviv liền ra lệnh động viên tất cả quân trừ bị đồng thời phát động chiến dịch ngoại giao. Khi Ai Cập phong tỏa eo biển Tiran (cửa vịnh Akaba), nội các Israel nhóm họp và ra tuyên bố kêu gọi phương Tây giúp đỡ con đường thông thương trên biển cho tàu bè Do Thái. Ngoại trưởng Abba Eban sang Pháp, Anh, Mỹ để tìm sự ủng hộ. Tuy vậy, mong muốn của Israel không thành. Paris cảnh cáo Israel không khai chiến trước. Tổng thống Johnson của Mỹ nói thẳng:

 

-“Washington không muốn Tel Aviv hành động đơn phương. Mỹ sẽ đề xuất thành lập một lực lượng hải quân quốc tế để buộc Ai Cập mở cửa vịnh Akaba”.

 

Tuy nhiên, kế hoạch này không thành. Khi các biện pháp ngoại giao, các vận động hành lang (lobby) bất thành, để đối phó với nguy cơ từ địch thủ, vào ngày 4-6-1967, chính phủ Do Thái cho phép Bộ Quốc phòng thực hiện “Chiến dịch phòng ngừa chớp nhoáng” mà bộ nầy đã đệ trình trước đó. Dưới sức ép của nhân dân và trước mối nguy từ khối Ả Rập, chính quyền Tel Aviv quyết định phải mời vị tướng lão luyện Moshe Dayan (Độc nhãn tướng quân) về làm Bộ trưởng Quốc phòng. Ông Dayan thuộc phe đối lập với chính phủ đương nhiệm của Thủ tướng Eshkhol và rất thân với cựu thủ tướng David Ben Gourion (đảng Mapia). Nội các Israel trở thành nội các chiến tranh.

 

 

Chân dung Tướng Moshe Dayan

 

c. Chiến sự bùng nổ.

 

Tiếng súng khai hỏa “Cuộc chiến 6 ngày” nổ ra lúc 7:45 sáng ngày 5-6-1967. Israel chọn vào lúc đó vì đây là giờ mà sự phòng bị của Ai cập lỏng-lẻo nhất, đa số sĩ quan trên đường tới trại, quân sĩ bố phòng canh gác lơ-là nhất sau một đêm dài mệt mỏi. Theo kế hoạch đã định trước, toàn bộ không lực Israel đồng loạt cất cánh, hướng về các phi trường, căn cứ quân sự, doanh trại quân đội, nhà kho, nhà máy, hải cảng v.v… của Ai Cập để tấn công theo sự phân chia nhiệm vụ cho từng đơn-vị theo dự trù. Chỉ trong vòng một giờ, các phi trường Bir Tamda, Djebel Libni, El Arich, Bir Gafagfa,… và các căn cứ không quân Ai Cập trên bờ Tây Suez đã bị Không quân Israel san phẳng. Xác người, súng ống, các ổ phòng không, máy bay, quân xa, kho tàng,…ngổn ngang: 300 máy bay bị phá hủy hoàn toàn, 100 trong 350 phi công bị chết tại chỗ. Hoàn toàn bị đặt trong trạng thái bất ngờ, chính quyền Cairo không kịp trở tay. Trước đó, Ai Cập dày công xây dựng một chiến lược cho Không lực của họ, tiếc thay, đã bị Israel bẽ gãy hoàn toàn trong chốc lát: hơn 400 máy bay cùng hệ thống phòng thủ bị phá hủy hoàn toàn mà không gây được thiệt hại nhỏ nào cho Không lực Israel khi họ tấn công Ai Cập.

 

Sau khi Không quân hoàn tất nhiệm vụ mà không gặp kháng cự nào là lúc Israel dùng đến Bộ binh. Lục quân Do Thái chia ra 3 mũi vượt bán đảo Sinai (Ai Cập) tiến tới các mục tiêu định sẵn. Rút kinh nghiệm của trận trước, theo đúng chiến lược, ở mặt trận phía Đông đối đầu với Jordan và phía Bắc đối đầu với Syria, Israel sử dụng hỏa lực của Pháo binh là chính để tiêu diệt địch vì ở 2 mặt trận nầy, nếu không tiêu diệt ngay lúc đầu, sẽ gây khó khăn cho quân Israel không ít. Quân Israel tiến quân mãnh liệt theo bài bản, tiêu diệt địch quân và chỉ gặp đối kháng không đáng kể.

 

Về phía Israel, do kế hoạch soạn thảo hoàn hảo, điều nghiên kỹ-càng, tin tình báo đầy đủ, chính xác và thi hành đúng theo chiến lược đã được phổ biến cộng với tinh thần chiến đấu cao, sĩ quan chỉ huy giỏi, quân sĩ hết lòng… nên trên tất cả các mặt trận, quân đội Do Thái đã tiêu diệt hoàn toàn địch quân. Chỉ trong 6 ngày, họ làm cỏ bán đảo Sinai, chiếm đóng dải Gaza, khu Bờ Tây sông Jordan (có thành Jerusalem) và cao nguyên Golan. Vào đêm 7-6-1967, khi chiến xa Israel chỉ còn cách thủ đô Amman 10 km đang trên đường tiến đến đó, vua Jordan buộc phải chấp nhận yêu cầu đình chiến. Ngày 8-6-1967, Đại sứ Ai Cập tại LHQ là Mohammed Awad El Kouni thông báo chính phủ của ông bằng lòng ngừng chiến. Riêng Syria, cầm cự được thêm hai ngày nữa rồi cũng phải đầu hàng vào ngày 10-6-1967. Đây là một kỳ tích của “Chiến dịch phòng ngừa chớp nhoáng” của Israel.

 

Về phía khối Á Rập, do có nhiều nước nên không có sự nhất quán về chiến thuật, chiến lược, thêm vào đó, tinh thần chiến đấu bạc nhược, sĩ quan chỉ huy kém, lính mất tinh thần do thất bại liên tiếp trước địch quân nên khi súng nổ, họ khiếp đảm tinh thần, chủ bại hơn là chủ chiến, làm mặt trận vỡ ngay, cuộc chiến như chỉ xảy ra có một phía: quân Israel thì tha hồ bắn giết, đốt phá, tiến như chẻ tre; còn phe Á Rập thì ngược lại, chỉ làm bia đỡ đạn, chạy trốn, không còn nghe lệnh cấp chỉ huy.

 

Ngoài yếu tố quyết đánh quyết thắng vì tính sống còn, không còn đường lùi mà Israel phải đương đầu, thắng lợi của Israel một phần do sự làm ngơ của hai siêu cường Mỹ - Nga vì họ không muốn can thiệp vào lò lửa Trung Đông. Tinh thần chiến đấu của binh sĩ Israel rất cao, cấp chỉ huy giỏi, chiến thuật thông suốt, quân lính được huấn luyện kỹ càng, tinh nhuệ nên đã bù đắp vào nhược điểm ít quân so với đối phương. Khối Á Rập tuy quân số đông nhưng là quân ô hợp, thiếu huấn luyện, không có tinh thần và mục tiêu chiến đấu, cấp chỉ huy kém, tiếp liệu tồi. Điển hình, trong một mặt trận, quân Ai Cập không được tiếp viện, quân sĩ bị bỏ đói khát trong 3 ngày. Khi bị bắt, lính Israel cho họ một ca nước uống, họ mừng đến phát khóc.

 

Một yếu-tố then chốt khác là đội quân tình báo Israel hoạt động rất hiệu quả: thu lượm các tin tức chính xác, nhanh chóng, chuyển tin ngay đến giới chức chỉ huy tại mặt trận để đáp ứng tức thời cho mặt trận đang diễn ra. Chính xác đến nỗi Israel biết chính xác số lượng phi cơ và quân lính ở các phi trường cùng hệ thống phòng không, các kiểu máy bay và số lượng, phi đạo ra sao, sinh hoạt thường xuyên thế nào, chỗ nào là máy bay thật, nơi nào chỉ là nghi binh; không chỉ ở một nơi nào mà hầu hết các mục tiêu Israel sẽ tấn công. Ngoài ta, các tổ chức tình báo Israel còn thu lượm tin tức từ Hải, Lục, Không quân của đối phương, không phải riêng một nước nào mà cả khối Á Rập. Tướng Moshe Dayan đã phải khen hệ thống tình báo Israel:

 

-"Bất kỳ một quân đội nào trên thế giới cũng phải tự hào khi có một cơ quan tình báo như vậy".

 

Điểm then chốt nữa là Israel có “bộ chỉ huy chiến tranh” gồm toàn những lãnh đạo tài ba, mà người giỏi nhất là vị Bộ trưởng Quốc phòng: Tướng Độc nhãn Moshe Dayan, là một người chưa hề biết đến chiến bại ngay cả khi còn phục vụ trong quân đội Anh hồi Thế chiến II, rồi ông chỉ huy cuộc chiến giành độc lập 1948-1949. Moshe đảm nhiệm chức Tư lệnh quân lực Israel từ năm 1954 đến năm 1958, ông buộc các sĩ quan – ngay cả cấp Tướng, Tá - luôn phải xung phong trước quân sĩ để nêu gương. Khẩu lệnh của cấp chỉ huy là “Hãy theo tôi!” chứ không hô “Tiến lên” như các quân đội khác. Ngoài ra, còn nhiều vị chỉ huy lừng danh khác trên các mặt trận, như: Tướng Mordekhai Hod, Tư lệnh Không quân; Tướng Ariel Sharon, Tướng Yigael Yadin hay Yitzhak Rabin, người sau này làm thủ tướng Israel. Ngoài nam giới, các nữ sĩ quan chỉ huy các binh đoàn nữ cũng không kém các nam sĩ quan, đã đánh các trận mà sau nầy, người Á Rập nghe đến tên họ đã bạt vía kinh hồn.

 

Tướng Moshe Dayan áp-dụng chiến thuật “đánh thốc”: dồn lực lượng đánh vào một điểm cho vỡ ra để lấy đó làm đầu cầu tiến quân. Trên nhiều mặt trận, ông dàn một đoàn thiết giáp ồ ạt tiến lên, mở đường tấn công vào một vị trí địch đang phòng thủ. Khi phòng tuyến địch bị vỡ một đoạn, chiến xa sẽ tiếp tục yểm trợ để cho bộ binh xung kích tiến lên, phá vỡ chiến tuyến địch quân. Sau đó, bộ binh và đặc nhiệm sẽ nhảy dù xuống ”làm cỏ” địch quân rồi thu hay phá hủy chiến lợi phẩm.

 

 

Hải cảng Tiran

 

Ngoài ra, hệ thống truyền thông Israel tung những tin tức thất thiệt, ngụy tạo để đánh lừa địch hay làm cho địch quân mất tinh thần hay mất cảnh giác. Các tin tức nầy đã tạo sự hỗn loạn hàng ngũ địch quân từ Tướng lãnh xuống đến binh sĩ. Điển hình, qua một bản tin quân sự mà Israel phát đi trên làn sóng phát thanh, Bộ chỉ huy khối Ả Rập tưởng rằng quân Israel đang gặp trở ngại nhiều trên sa mạc Neguev hay trên dải Gaza. Thực tế, quân Israel đang uy hiếp thủ đô Cairo của Ai Cập. Một trường hợp khác, máy bay Ả Rập nối tiếp nhau hạ cánh xuống phi trường Al Arish vì cờ Ai Cập vẫn đang bay trong gió và đài kiểm soát không lưu vẫn lanh lảnh giọng điều hợp viên Ả Rập. Họ không nhận được tin nào về việc phi trường này bị quân Israel chiếm đã lâu. Dĩ nhiêm số quân sĩ và các khí tài của địch quân Á Rập nầy bị Israel bắt gọn mà không phải tốn sức hay bị thiệt hại nào.

 

* Mặt trận tấn công Ai Cập.

 

Trên khắp các mặt, quân Israel tiến như chẻ tre, đúng theo bài bản đã được Bộ Quốc phòng Israel hoạch định. Israel chủ ý đập tan nước cầm đầu là Ai Cập, sẽ làm nhụt chí các nước phụ thuộc. Do vậy, Không quân Israel san bằng các phi trường Ai Cập trước tiên nên không còn chiếc máy bay Ai Cập nào lên nghênh chiến được. Sau một giờ oanh tạc, chính quyền Nasser mới biết những gì đã xảy ra nhưng không chính xác vì tất cả quân Ai Cập đã ăn bom đạn của Israel, không còn mấy người để báo cáo về đại bản doanh những gì đã xảy đến với họ. Cả thế giới ngạc nhiên, không hiểu tại sao phi công Israel lại nhằm trúng đích tài tình như vậy. Báo chí hồi đó còn đồn đại Tel Aviv có một khí giới bí mật nào đó. Tuy nhiên, những bức ảnh chụp được cho thấy các sân bay đều bị san phẳng bởi bom và rocket quy ước (bom thường). Với bộ binh, Tướng Moshe Dayan vẫn dùng chiến thuật như trận năm 1956: chia 3 mũi tấn công. Tính đến ngày 8/6, toàn bán đảo Sinai đã lọt vào tay Israel. Eo biển Tiran và vịnh Akaba được giải tỏa, Hải quân Israel hiện diện tại đó. Quân Israel tiến không ngừng từ lúc khai chiến cho đến lúc kết thúc chiến dịch, đồng nghĩa với lời đầu hàng của khối Á Rập.

 

Tính cho tới lúc đình chiến vào tối 8/6, Ai Cập thiệt hại 10.000 quân, 5.000 người bị bắt làm tù binh, gần 500 phi cơ tan xác, 400 xe tăng bị hủy, 300 chiếc khác bị Israel chiếm lấy. Còn phía Israel có 275 binh sĩ tử trận, 800 người bị thương, 61 xe tăng bị phá hủy.  

 

* Mặt trận chống Jordan.

 

Theo chiến thuật đã định, Israel phải diệt Ai Cập là quốc gia đứng đầu liên minh nên ở mặt trận Jordan phía Đông, quân Israel bỏ ngỏ. Đến khi bắt đầu mặt trận nầy, quân Israel phải chiến đấu giành giật cổ thành, cuộc chiến diễn ra ác liệt trên từng khúc đường, từng căn nhà. Ngày 7-6-1967, quân Israel chiếm được Đông Jerusalem. Cùng lúc, một cánh quân Israel khác chiếm Djenine, Naplouse rồi tiến vào bờ Tây sông Jordan. Cũng vào chiều 7-6-1967, vua Hussein đành tuyên bố đầu hàng. Trên 6.000 người của phía Jordan bị chết hoặc mất tích, 760 bị thương, 460 bị bắt làm tù binh, khoảng 1/3 trong tổng số 300 chiến xa bị phá hủy, máy bay hư hỏng toàn bộ. Quân Do Thái tổn thất 350 người, 300 binh sĩ bị thương.

 

* Mặt trận phía Bắc tấn công Syria.

 

Trong khối Ả Rập, quân đội Syria chiến đấu kiên cường nhất. Syria dồn lên biên giới 75.000 quân được trang bị vũ khí tối tân nhất mới nhận của khối Cộng, cùng với 400 chiến xa. Lợi thế mà Syria có được là cao nguyên Golan đã có sẵn nhiều thành lũy kiên cố do Đức, Nga xây cất trước đó nên họ dựa vào đó chống trả lại quân Israel. Tel Aviv áp dụng chiến thuật tiêu hao và tấn công bất ngờ: dùng phi cơ oanh tạc vào phòng tuyến đối phương, nã đại bác suốt 5 giờ liền, rồi bộ binh Israel từ thung lũng sông Jordan đánh thốc lên với sự yểm trợ của chiến xa. Israel bị tổn thất khá nặng trên mặt trận này tuy họ làm chủ không phận ngay từ phút đầu với 115 tử thương, 306 bị thương. Syria thiệt hại: 200 người chết, 5.000 người bị thương, 80 xe tăng bị phá hủy, 40 chiếc bị tịch thu. Vào lúc 6 giờ chiều ngày 10-6-1967, hai bên ngưng chiến theo lệnh của LHQ. Tính ra, Syria là nước chịu thua sau hai nước Ai Cập và Jordan 2 ngày. Bộ trưởng Ngoại giao Syria đau lòng tuyên bố:

 

-"Syria thua vì không được không quân yểm trợ".

 

Vậy là khối Ả Rập thêm một lần nữa bại trận trước Israel. Nhân đó, Israel chiếm thêm nhiều đất của Ai Cập. Cao nguyên Golan, khu Bờ Tây, Dải Gaza màu mỡ đều về tay Israel.

 

 

Đánh chiếm Sinai, 7 và 8 tháng 6, 1967 "Quân Ai Cập bị phong tỏa

do cuộc đột kích trong ngày 5 và 6 tháng 6, chỉ có thể chống cự

yếu ớt trừ ở những điểm được đánh dấu. Các đội quân quá

hỗn loạn để phân biệt chính xác." (Wikipedia)

 

d. Hậu quả của cuộc chiến.

 

* Đối với khối Á Rập.

 

Sau khi ký kết đình chiến, khối Ả Rập gặp nhiều khó khăn. Nội bộ bất đồng do chiến lược bị phá vỡ, thua trận tạo cho kinh tế kiệt quệ, nước nào cũng thiếu tiền, kênh Suez buộc phải đóng cửa làm cho Ai Cập mất 1,5 triệu Đô la mỗi tuần. Phần Jordan do mất cổ thành Jerusalem nên mất luôn nguồn lợi du lịch 34 triệu USD mỗi năm. Còn khu bờ Tây cung cấp 80% sản lượng dầu ô-liu, 65% cây trái cũng bị Israel chiếm. Các quốc gia thuộc khối Á Rập khác như Ả Rập Saudi, Iraq, Kuwait… cũng thiệt hại nguồn tiền bán dầu khi cắt đứt quan hệ với phương Tây. Ai Cập chủ xướng Hội nghị Khartoum vào tháng 8-1967 đã thất bại trong việc tìm ra một giải pháp buộc Israel rút quân khỏi vùng họ chiếm đóng, càng làm cho khối Ả Rập thêm chia rẽ. Sau nầy, Ai Cập nghiêng về phương Tây hơn là khối Cộng, làm cho cán cân lực lượng giữa Israel và khối Hồi giáo bớt chệnh-lệch, đó là điều Israel mong muốn nhất.

 

* Đối với Israel.

 

Sau chiến thắng, Israel chiếm được nhiều đất hơn và tạm thời loại bỏ được mối nguy từ các nước Ả Rập và cái họa bị “xóa sổ”. Tuy nhiên, nó lại đào sâu thêm sự hận thù dân tộc ở Trung Đông. Nhiều người Israel đem gia đình tới và lập khu định cư ở Bờ Tây và Dải Gaza. Cho tới nay, có khoảng 2% dân số Israel đang sống tại khu vực này. Nội bộ Israel chia rẽ từ đó: cánh hữu cho rằng vùng đất mới là chiến lợi phẩm hợp lý trong cuộc chiến chính nghĩa nhưng cánh tả cho rằng nên đổi nó để lấy hòa bình vĩnh cữu. Việc đảm bảo an ninh cho những người đang sống trong các khu định cư của Israel và kiến tạo hòa bình với khối Ả Rập là một nan đề cho chính quyền tại Tel Aviv. Ngoài ra, sau chiến thắng, người ta lo ngại hơn cho Israel. Sự xấu hổ vì thua trận và phẫn nộ do những hệ lụy nảy sinh trong khối Ả Rập từ sau thất bại ê chề nầy đã đẻ ra phong trào Hồi giáo quá khích ở Trung Đông, đã tạo nên các hoạt động du kích Hồi giáo và nhất là sự thành lập lực lượng Palestine và tạo thêm nhiều vấn nạn mới.

 

* Đối với Nga - Mỹ.

 

Sau cuộc chiến năm 1967, uy tín của Nga và khối Cộng suy giảm ở Trung Đông do họ không can thiệp để cứu nguy Ai Cập tuy rằng có hứa hẹn ban đầu. Còn Mỹ và phương Tây lại giành thắng lợi rất lớn về tinh thần. Nhiều nước Ả Rập mà tiêu biểu là Jordan quyết định ngả hẵn sang khối Tự do, nhất là đa số nhân dân thuộc các nước bại trận. Với Ai Cập, nước chủ chốt trong đối đầu với Israel, sau đó, tỏ ra hòa hoãn hơn, xích lại gần với Tây phương hơn. Sau cuộc chiến, Quốc vương Hussein bin Talal của Jordan (sinh ngày 14-11-1935) là người đã hăng hái và nhiệt tâm nhất đứng ra làm trung gian, thúc đẩy các nhà lãnh đạo khác trong tiến trình hòa bình cho vùng đất Trung Đông, là nhân vật được nể vì nhất trong các cuộc hòa đàm để giải quyết các mâu-thuẫn trầm trọng giữa Israel và khối Á Rập. Ông là vị lãnh đạo được xem là có uy-tín nhất, không những đối với các nhà lãnh đạo các nước tại Trung Đông mà còn với các thế lực bên ngoài như Nga, Mỹ và châu Âu. Điển hình là tại Hội nghị Thượng đỉnh Wye Plantation (Hoa Kỳ), ông là người đã hướng đại diện của Do Thái và Palestine cùng ký kết thỏa ước hòa bình cho vùng Tây Ngạn. Ông qua đời ngày 7-2-1999 ở tuổi 63 vì bệnh ung thư bạch huyết bào. Tang lễ của ông có mặt của rất nhiều lãnh đạo thế giới tham dự, ngay cả những người ghét ông lúc ông còn sinh tiền.

 

D. KẾT LUẬN.

 

Nhìn qua các cuộc chiến giữa Israel và khối Á Rập, nhất là “cuộc chiến 6 ngày” vừa nói bên trên, chúng ta thấy một số thảm cảnh mà nhân dân của phía phải gánh chịu: với bao tang thương, mất mát, từ vật chất tới nhân mạng. Ngoài ra, cuộc chiến đã nẩy sinh những nan đề khác mà sự tàn bạo của nó khôn lường, đẩy thế giới vào thế bí không lối thoát. Người ta cho rằng thế chiến thứ hai đã “đẻ ra và nuôi lớn” chủ nghĩa Cộng sản, điều nguy hại cho nhân loại còn to lớn hơn 2 trái bom nguyên tử đã thả xuống đất Nhật thì cuộc chiến giữa Israel cùng khối Á Rập lại đẻ ra phong trào “đánh bom tự sát” cùng các “lực lượng vũ trang quá khích” (các phong trào Fatah, lực lượng Hamas, Hezbollah,…), đã sát hại bao người vô tội, tầm nguy hại cũng không nhỏ. Nan đề tồn tại chưa có lối thoát là các lực lượng quá khích đã tuyên truyền đến độ nhồi sọ các kẻ nhẹ dạ hy sinh mạng sống của mình để ôm bom tự sát, theo kiểu mà nhóm chủ trương nầy cho là chiến-thuật “chiến-tranh không cân xứng” (không cần súng đạn và nhiều người mà chỉ cần 1 người cũng giết được nhiều người).

 

Cuộc chiến nầy cũng là bài học cho các chuyên gia chính trị, quân sự…có thể rút ra nhiều kinh nghiệm quý-báu hầu phục vụ cho hòa bình, hướng nhân loại tránh được các cuộc chiến trong mai hậu, để đem các dân tộc lại gần với nhau hơn, tiêu diệt “cái ác”, vì theo một nhận định: “Cái Ác không chỉ đối nghịch với cái Thiện, mà còn đối nghịch với trật tự, hòa bình và sự ổn định” (Evil is the opposite not only of good but of order, peace and stability). Không riêng về nhân dân hai phe của vùng đất Trung Đông mà tất cả nhân loại yêu chuộng hòa bình trên thế giới đều mong mỏi có một “phép mầu” nào đó để giải quyết ổn thỏa mối bất hòa dai dẳng nầy, để người dân hai khối chung sống trong hòa bình vĩnh cửu, xóa tan đi bóng mây chiến tranh luôn bào trùm khu vực Trung Đông trước nay. Mong lắm thay!

 

Lê Chánh Thiêm

5-2005, có sửa đổi.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

 

- Bài học Israel.

- CNN, AP, AFP, BBC, Wikipedia

- http://www.mfa.gov.il – Ask.com

- “Nhìn qua cuộc chiến tranh Ai – Do” của Nguyễn Hiến Lê.

- Tài liệu tổng hợp.

 

Bài này được đăng lần đầu vào lúc 4:23:47 PM, March 23, 2007, được sửa đổi và bổ sung thêm chi tiết.

 

*  *  *

 

Xem các bài cùng tác giả, click vào đây
Xem trang Kiến thức tài liệu, click tại đây
Trở về trang chính: www.nuiansongtra.com

 


Nếu độc giả, đồng hương, thân hữu muốn: 

* Liên-lạc với Ban Điều Hành hay webmaster 
* Gởi các sáng tác, tài liệu, hình-ảnh... để đăng 
* Cần bản copy tài liệu, hình, bài...trên trang web:

Xin gởi email về: quangngai@nuiansongtra.net 
hay: nuiansongtra1941@gmail.com

*  *  *

Copyright by authors & Website Nui An Song Tra - 2006


Created by Hiep Nguyen
log in | ghi danh