I. MỞ ĐẦU.
Khi so sánh tương quan lực lượng của hai phía trong một cuộc chiến, người ta lấy sức mạnh quân đội của các quốc gia tham chiến cùng với các loại khí tài phục vụ cho chiến tranh cùng hậu phương cung ứng chiến trường làm chuẩn ngoài nhiều việc khác. Những thập niên gần đây, việc áp dụng khoa học kỹ thuật phục vụ cho chiến tranh bước đi bằng những đôi hia dài nhiều dặm trong việc chế tạo các loại vũ khí, quân trang quân dụng, không những phục vụ cho chiến đấu mà còn hữu dụng trong việc do thám, một cách dùng quân dụng thay cho con người (các điệp viên) để thu thập tin tức. Việc do thám là nhu cầu cấp thiết cho mọi quân lực, dù thời chiến hay thời bình, không chỉ với địch thủ mà còn với cả đồng minh chí cốt. Trong cuộc chiến tranh lạnh vừa qua, đứng đầu hai phe là Nga và Mỹ đã dùng nhiều cách do thám lẫn nhau. Về phía Hoa Kỳ, vào thập niên 1950, việc thu thập tin tức tình báo được chính phủ giao cho Cơ-Quan Tình-Báo Trung-Ương (Central Intelligence Agency, CIA) đảm trách, ngoài các cơ quan tình báo của quân đội. Trên quan niệm “chiếm lĩnh không gian”, người Mỹ cho rằng việc do thám phe địch từ trên không trung là cần thiết, vì thế, CIA đã yêu-cầu các kỹ-sư Mỹ nghiên-cứu để chế-tạo một loại phi-cơ có thể bay thật cao thật xa để do thám khối Cộng. Thế là chiếc do-thám-cơ U-2, loại máy bay thám-thính cao độ (high-altitude reconnaissance) có thể lượn (tắt máy nhưng phi cơ vẫn bay) được chế tạo và ngày 15-7-1955 đánh dấu loại chim sắt nầy được tung mây lướt gió lần đầu tiên. U-2 hoạt động thật hữu hiệu từ bấy đến nay mà chính quyền Mỹ vẫn chưa chịu cho chúng “nghỉ hưu” cho dù vài thập niên gần đây Mỹ chế ra nhiều loại do thám cơ loại mới. Chừng đó cũng đủ cho thấy tầm hữu dụng của nó đến thế nào.
Một chiếc U-2 đậu tại căn cứ
II. VÀI NÉT VỀ CHIẾC DO THÁM CƠ U-2:
a. Sơ lược: Ngoài các phi vụ huấn luyện, mỗi phi vụ của U-2 là một điệp vụ. Các dụng cụ để do thám trang bị trên chiếc U-2 là những thành quả từ những bộ óc siêu việt của con người vào lúc đó, nếu so sánh với những phát minh phát kiến hiện nay theo đà tiến hóa của con người, không thể chắc chắn xác quyết chuyện hơn kém. Ta hãy xem qua vài “món ăn chơi” của nó thử ra sao. Từ ở cao độ 85.000ft (25.900m), các máy ảnh thật mạnh gắn trên phi-cơ U-2 có thể chụp chính-xác đến độ thấy rõ người dưới đất đang di-chuyển bằng xe đạp hay xe gắn máy. Các bộ cảm ứng nhiệt có thể phát giác được một quả địa lôi từ độ cao tối đa mà nó đang bay. Các máy vô-tuyến trên phi-cơ có thể tìm ra các căn-cứ Radar của Nga dù được ngụy-trang kín-đáo cách mấy đi nữa. Những “máy quay phim ghi nhận bằng dấu hiệu” trên U-2 có thể khám-phá được mọi hệ-thống phòng-không của Nga trong một vùng bán-kính đã được định trước trong máy ảnh; máy ghi nhận luồng sóng điện để khám phá các cơ sở truyền tin liên lạc và những máy ghi âm điện-tử để ghi nhận mọi tiếng động gởi về tổng hành dinh để phân định đó là loại tiếng động gì. Chỉ riêng cao độ và thời gian bay mà không cần tiếp nhiên liệu của U-2 đã là một thành công vượt bậc, kể cả đến hiện nay. Gần như chưa bao giờ có một điệp-vụ nào lại có thể thu-thập nhiều tin-tức chính-xác, sống-động và thành-công mỹ mãn như các phi vụ mà U-2 đã mang lại. Các tin-tức này đã giúp cơ-quan CIA biết hầu-hết các hoạt-động của Nga-sô, giúp cho chính-quyền Mỹ có những biện-pháp hữu-hiệu để đối-phó kịp thời trong tình-thế đối đầu lúc đó cũng như hoạch-định những kế-hoạch đáp ứng theo tình hình. Các điệp vụ bằng U-2 sẽ còn hoạt-động lâu dài nếu không có biến cố xảy ra khiến CIA phải chấm dứt chương-trình do thám nầy khi phi-vụ của phi công Francis Gary Powers bị rơi trên đất Nga vào ngày 01-5-1960 sau gần 4 năm người Mỹ đã biết được hầu như mọi chuyện mà họ cần biết từ phía địch thủ với những chuyến bay U-2 mà các phi công Mỹ gọi là “những chuyến đi dạo thường xuyên” vì mọi việc đều do máy móc làm, phi công chỉ việc bấm nút trong khi máy bay ở một cao độ an toàn tuyệt đối.
b. Lịch sử ra đời: Sau khi Nga phóng phi-thuyền Sputnik (1957), Mỹ cảm thấy bị “lép vế” về các hoạt động trong không gian và lo sợ sẽ bị đối phương tấn-công từ không trung. Hai biến cố trong năm 1959: Fidel Castro liên hiệp với Nga để đặt hỏa-tiễn trên đất Cuba nhắm vào Mỹ; Thủ Tướng Nga Nikita Khrouchtchev thăm Mỹ. Khrouchtchev yêu-cầu Hoa Kỳ rút khỏi Tây Bá-Linh. Lãnh đạo Nga Mỹ gặp nhau để bàn bạc về vấn đề Bá-Linh cùng vũ-khí hạt-nhân, T.T. Mỹ Eisenhower đưa ra đề nghị “mở ngỏ không phận (open skies) cho máy bay thám-thính bay trên không phận mọi quốc gia để chắc-chắn rằng không ai chuẩn-bị chiến-tranh”. Thế là tuy biết Khrouchtchev không đồng ý nhưng phía Mỹ vẫn cứ tiến hành, áp dụng sách lược “Quyền lực Không gian” hòng chiếm thế thượng phong. Khi đã hoạch định chiến lược tiến vào không gian, Mỹ bắt tay ngay vào việc chế tạo những con chim sắt để dùng vào việc do thám. Lịch-sử của U-2 bắt đầu từ năm 1953 khi Lockheed Martin Aeronautical Systems Company, hãng chế-tạo phi-cơ ở Burbank, California yêu-cầu các kỹ-sư của họ nghiên-cứu để chế-tạo một loại phi-cơ có thể bay xa hơn, cao hơn loại chiến-đấu cơ F-104 Starfighter đang có. Tháng 3-1953, kỹ-sư William Lamar lập đồ-án cho chương-trình, cuối năm hoàn-tất, đến ngày 18-5-1954 trình cho ông John D.Seaberg, kỹ sư hàng không trưởng nhóm xem. Tháng 11-1954, giám-đốc CIA là Allen Dulles diện kiến T.T. Eisenhower, ký nhận số tiền $35 triệu USD để đặt 20 chiếc U-2 đầu tiên, một số tiền đáng kể vào lúc đó. Ngày 2-12-1954, một toán 12 kỹ-sư dưới sự điều hành của Kỹ-sư hàng-không Kelly Johnson đảm-nhận việc vẽ kiểu. Họ đã dốc tâm nghiên-cứu và hoàn-thành việc sáng-chế ra chiếc máy bay U-2. Đây là loại máy bay thám-thính cao độ, có thể lượn, gắn động-cơ phản-lực; đôi cánh rất nhẹ mặc-dù trọng-lượng của đôi cánh xem như là của cả máy bay có chở đầy nhiên-liệu. Ngày 15-7-1955, chiếc U-2A đầu tiên hoàn tất, Tony LeVier là Kỹ-sư cũng là phi công của Lockheed là người bay thử đầu tiên. Ngày 01-8-1955 U-2 bước vào hoạt động chính thức. U-2A là kiểu đầu tiên của thế-hệ U-2; sau đó là kiểu U-2C; tháng 3-1960 ra đời U-2D; rồi đến U-2E; ngày 2-3-1964 kiểu U-2F ra đời; tháng 12-1964 là kiểu U-2G; đến U-2R. Kiểu mới nhất là U-2S. Trước khi bí-mật của vụ U-2 bị phơi bày, các tay tổ gián-điệp của Anh, Pháp…đã tỏ ý “ghen-tỵ” về phương tiện do-thám đắt giá này của Mỹ khi Anh, Pháp còn là đồng-minh của Mỹ để chống lại khối Cộng. Một chuyên-gia Anh đã nói với giám-đốc CIA, ông Allen Dulles: “Chúng tôi không bao giờ có nổi cái phương-tiện do-thám này. Những phi-vụ của U-2 quả là một công-tác tình-báo dựa trên sự sản-xuất hàng loạt” (We’ll never be able to match that one. Those flights were intelligence work on a mass production basis).
c. Đặc tính kỹ thuật: Do hạn chế nhiều chi tiết trong một bài tiểu luận nên thông qua nhiều chi tiết. Về kỹ thuật, ta bỏ qua từ kiểu U-2A đến kiểu U-2R mà chỉ đề cập đến chiếc U-2S, kiểu mới nhất. Do thám cơ U-2S: có 1 động cơ General Electric F-118-101 kiểu phản lực (turbin cánh quạt) với sức đẩy 19.000 pounds (84.5kN); chiều dài: 63 feet (19,2m); chiều cao: 16ft (4,88m); sải cánh (từ đầu này sang đầu kia cánh) 103ft (31,4m); diện tích: 1.000 square ft; vận tốc tối đa: 434 knots (500 dặm một giờ = 805 km/h (Mach 0.58); trọng tải rỗng: 14.300 lbs; trọng tải tối đa lúc cất cánh: 40.000 pounds (18.100kg); bay xa: 5.566 dặm hàng hải, nautical miles (6405 miles, 10.300km) chưa tính lúc tắt máy để lượn cho đỡ tốn nhiên-liệu; bay cao: 85.000ft (25.900m); thời gian bay: 12 giờ; chỉ 1 phi công (2 phi-công cho loại huấn luyện). Chiếc phi-cơ U-2A đầu tiên xuất xưởng vào tháng 8-1955, kiểu U-2R xuất xưởng năm 1967, kiểu U-2S xuất xưởng tháng 10-1994. So sánh các số liệu của chiếc U-2S (ở đoạn trên) với chiếc U-2C để biết sự khác biệt: Chiếc U-2C có sải cánh 80ft (24,4m); dài 50 ft (15,2m); cao 15 ft (4,6m), trọng tải căn bản 13.071lbs (5.929 kg). Do kích thước đặc biệt của hai cánh để nó có thể “lượn” như chim nên phải có 1 bánh xe ở mỗi cánh để giữ thăng bằng khi đang bay, khi hạ cánh và phải có những chiếc xe phân khối lớn chạy dọc đường băng để trợ giúp nó khi cất và hạ cánh.
d. Nhiệm vụ: Khi công việc chế-tạo hoàn-thành, chiếc U-2 là hiện thân cho một loại phi-cơ đặc-biệt với những đặc-tình kỹ-thuật thật hoàn-hảo. U-2S có thể bay đến cao-độ 85.000ft (25.900m), một độ cao lý-tưởng, bay liên tục trong 12 giờ, có thể tắt máy để lượn đi một khoảng-cách xa độ 6 ngàn cây-số để tiết-kiệm nhiên-liệu cho đủ khoảng-cách mà công-tác đòi-hỏi, một kỹ thuật không phải là chuyện bình thường nếu so với trình độ kỹ thuật thời đó. Trước khi cất cánh, phi-công phải nghỉ-ngơi ít nhất một giờ rưỡi cho thoải-mái, để thở oxy cho quen với 12 giờ bay liên-tiếp trên thượng-tầng khí-quyển, nơi có áp-suất không-khí thay đổi nhiều so với hạ tầng khí-quyển nên cần phải thở bằng oxy liên tục để giảm lượng Nitơ trong máu. Trong khi đang bay, phi-công không thể ăn uống gì được vì mũ bay được gắn liền với cổ bằng một vòng li-e. Vì thế, sau mỗi phi vụ, phi-công rất mệt-mỏi và đói khát. Do bay ở độ cao lớn nên phi công dễ bị khó thở do không khí quá loãng, vì vậy trang phục của phi công U-2 giống như bộ quần áo của các phi hành gia, nhằm cân bằng áp suất.
U-2 là một loại phi cơ đa năng, không chỉ dùng để do thám. Với những máy móc tối-tân, U-2 còn được sử-dụng trong: các phi-vụ quan-sát đạn-đạo của các thí nghiệm về phi-đạn, các phi-vụ nghiên-cứu không-gian, theo-dõi hay tìm kiếm các vệ-tinh nhân-tạo khi vệ-tinh trở về trái đất, xác-định các hoạt-động vô-tuyến, quan-sát các sự hỗn-loạn khí-tượng, vẽ bản-đồ và huấn-luyện các phi-công mới. Khi máy bay bị hư hay vì một lý-do nào đó buộc phải hạ cánh, trên phi-cơ có trang-bị một bộ-phận làm nổ tung phi-cơ theo lệnh của phi-công để giữ bí-mật. Phá-hủy được phi-cơ thì dù địch có bắt được phi-công cũng không tìm hiểu gì được nhiệm-vụ của loại phi-cơ này.
e. Thành quả của U-2: Thời gian U-2 hoạt động đắc lực và hữu hiệu nhất phải kể là lúc chúng nằm trong “Phân đội Do-thám bí-mật 10-10” (Secret 10-10 Reconnaissance Detachment) của CIA. Phân-đội nầy thành-lập năm 1956 khi nhận Mỹ thấy kế hoạch do thám Nga là một “nhiệm vụ thiết yếu”. Để do thám Nga, các phi-công Mỹ được gởi tới Incirlik Air Base ở Thổ Nhĩ-Kỳ, sống trong những chiếc xe nhà (roulotte) mang từ Mỹ sang. Họ sống ở đó với gia đình, thật bí-mật suốt 4 năm liền, không hề giao-thiệp với bất cứ ai trong căn-cứ Incirlik để giữ kín hành tung. Mọi nhu-cầu cho cuộc sống của họ được cung-cấp đầy-đủ, được gởi từ Mỹ sang hay các cơ sở tiếp liệu của quân đội Mỹ cung cấp. Trên lý-thuyết thì họ cộng-tác với Cơ-quan Quản-trị Hàng-không và Không-gian Hoa-Kỳ (NASA) trong nhiệm-vụ khảo-cứu thượng-tầng khí-quyển. Trên sổ sách, họ là nhân-viên của hãng Lockheed Martin Aeronautical Systems Company, được biệt-phái sang giúp cho NASA. Thực-tế, họ là những nhân-viên của CIA. Về lương bổng, mỗi người lãnh $2,500 USD một tháng vào thời đó, một số tiền không nhỏ.
Trong gần bốn năm trời kể từ phi vụ do thám đầu tiên tới phi vụ của phi công Powers bị rơi tại Nga, phân-đội tình-báo này đã thu-thập được hàng tấn tin-tức bằng phim ảnh và hàng ngàn trang tài liệu in từ các phim ảnh, từ băng ghi âm, bằng Radar và máy móc tình báo trong các chuyến bay do-thám xuyên qua không-phận Nga-sô. Các phi-vụ U-2 đã phát-giác và báo cáo về tổng-hành-dinh của CIA nhiều căn-cứ có chứa phi-đạn, phi-trường quân-sự, trại đóng quân, kho tàng, công-binh-xưởng, kho nhiên liệu… trong nội-đia nước Nga một cách chính-xác. Từ các tin-tức này đã giúp cho Hoa-Kỳ có những biện-pháp hữu-hiệu để đối-phó với Nga-sô và khối Cộng trong suốt cuộc Chiến-tranh lạnh, đã ít nhiều góp phần vào các chiến-thắng của Hoa-Kỳ và Đồng-minh hoặc ít ra cũng giúp cho Hoa-Kỳ biết trước để ngăn-chận các bành-trướng quân-sự của khối Cộng, tránh cho nhân-loại thảm-họa chiến-tranh mà chủ thuyết bá quyền, nhuộm đỏ nhân-loại của Cộng-sản đang theo đuổi.
1 chiếc U-2 trở về căn cứ Incirlik Air Base (Thổ Nhĩ Kỳ) sau một phi vụ.
Nhờ cánh dài nên U-2 có thể “lượn” thất xa mà không cần nổ máy
để tiết kiệm xăng. Phía xa là một chiếc Pontiac G8 có nhiệm vụ
hướng dẫn phi công hạ cánh. Ảnh: AP
f. Vụ U-2 rơi trên đất Nga: Thật ra, chính-quyền Nga đã biết các phi-vụ do-thám của những chiếc U-2 sơn màu xanh thẫm và họ đã từng lên tiếng phản-đối việc xâm-nhập có tính-toán của những chiếc U-2 nhưng chưa có bằng cớ xác-quyết và không biết đích-xác cách hoạt-động nên các phản kháng chỉ có tính cách chung chung. Người Nga đặt cho U-2 tên là “Thiếu phụ đen” (Black Lady). Trong tập-san Hàng-không (Nga) vào những năm 1958-1959, Nga đã nhiều lần phản-kháng nhưng phía Mỹ vẫn phớt lờ trước những lời tố-cáo không có bằng cớ và không chính thức (không có văn bản hay qua con đường ngoại giao) cho đến khi phi vụ của Francis Gary Powers vỡ lở, chiếc U-2 bị rơi trên đất Nga vào ngày 01-5-1960.
Hơn nửa thế kỷ đã qua, đến nay vẫn chưa có thông tin nào được công bố lý do bị rơi. Người ta vẫn thắc mắc với câu hỏi rằng “Máy bay của Powers bị rơi là do trục trặc kỹ thuật hay do hỏa tiễn Nga bắn hạ?”. Về phía CIA, theo nguyên tắc cố hữu, họ không bao giờ công bố chuyện gì liên quan đến tất cả các hoạt động của họ nên không ai biết thêm gì ngoài tin “U-2 bị rơi và phi công Powers bị bắt”. Còn phía Nga thì rêu rao là do hỏa tiễn của họ bắn hạ. Tuyên bố của Nga không đứng vững bởi nhiều chứng cớ hiển nhiên. Thứ nhất, vũ khí được Nga cho là “hiện đại” (sic) nhất lúc đó là “hỏa tiễn địa đối không SAM-2” (Surface-to-Air Missile, SAM; hay Ground-To-Air Missile, GTAM), được nghiên cứu chế tạo vào cuối thập niên 40, trang bị cho quân đội Nga vào giữa thập niên 50. Tuy nhiên tầm bắn cao nhất của SAM-2 lúc bấy giờ vẫn không thể đạt tới độ cao của U-2 bay (sau nhiều lần nâng cấp, độ cao cuối cùng của SAM-2 chỉ từ 33,000 ft đến 49,000 feet [10,000m đến 15,000m). Cho nên, dù SAM-2 đã được trang bị cho lực lượng phòng không Nga, nó cũng không có thể bắn hạ U-2. Còn chiến đấu cơ của Nga, tuyệt nhiên không thể bay cao đến như cao độ của U-2. Để tuyên truyền tính “ưu việt xã hội chủ nghĩa” của mình, trong một tài liệu do Nga phổ biến với nội dung: “Sau khi phát hiện U-2 liên tục trinh sát các căn cứ quân sự của mình, dự đoán U-2 còn tiếp tục xâm nhập nữa, nên Nga quyết tâm tìm cách ngăn chặn các cuộc thâm nhập. Bộ phận hiển thị độ cao trên chiếc máy bay của Powers đã bị điệp viên của Liên Xô gắn thiết bị đặc biệt gây ra sự sai lệch về chỉ số trên chiếc đồng hồ đo độ cao” (sic), đó là lý do làm cho Powers nhầm cao độ đang bay nên bị SAM-2 bắn hạ”. Lối giải thích của Nga như thế đó.
Ai có thể tin vào việc một loại phi cơ do thám tối tân nhất, rất đắt tiền, mới nhất, đang thực thi một sứ mệnh bí mật và quan trong nhất lại để cho điệp viên địch dễ dàng gắn thiết bị làm cho máy móc trên phi cơ sai lệch? Đây quả là trò tuyên truyền lố bịch, láo khoét, ấu trĩ, lối giải thích mị dân đến độ khôi hài của Cộng sản, giống như Việt Cộng tuyên truyền dạo nào sau ngày 30-4-1975: “Phi công anh hùng của ta (miền Bắc VN) bay lên mây rồi tắt máy phi cơ trên mây, đợi máy bay Mỹ ngoài hạm bay vào rồi nổ máy phi cơ, bay xuống bắn hạ phi cơ Mỹ” (sic). Quả là những lối tuyên truyền ngu xuẩn, từ nước “thầy” đầu sỏ đến nước “trò” chư hầu, chỉ rập một khuôn. Chỉ có những người điên, kẻ không có lý trí mới tin như thế; riêng những tên Việt Cộng dốt nát và mù quáng thì không kể. Thứ hai, việc Nga tuyên bố U-2 bị SAM-2 bắn rơi lại mâu thuẩn với lời kể của viên phi công và những tang vật chứng cớ trong phiên xử Francis Powers và sau đó Nga trưng bày trong triển lãm. Theo cuốn “Central Intelligence Agency” của Andrew Tully, sau nầy Powers kể lại, “anh ta bỗng thấy “một tia chớp màu vàng cam” (an orange flash), thế là chiếc U-2 mất cao độ, hạ thấp dần nhưng máy bay vẫn còn nguyên vẹn chứ không bị cháy hay nổ tung. Francis Powers cố hết sức mà chiếc ghế vẫn không bung ra, anh ta phải cạy cockpit, cởi dây belt ghế rồi nhảy ra ngoài. Dù mở, anh ta tiếp đất an-toàn còn chiếc U-2 đâm xuống cánh đồng gần Sverdlovsk”. Nếu bị SAM bắn hạ nó phải nổ tung tan tành mới phải, làm sao Nga thu nhặt được động cơ nguyên vẹn như họ đã trưng bày trong triển lãm, làm sao gom góp đầy đủ các trang cụ của phi công được họ đem ra làm bằng chứng trong phiên xử được?
Ta hãy xem giới hữu trách Mỹ nói gì về U-2. Ngày 2-6-1960, Bộ-trưởng Quốc-phòng Thomas S. Gates trình-bày trước Ủy-ban Ngoại-giao Thượng-viện Mỹ về các kết-quả mà các phi-vụ U-2 thu-lượm được một cách đầy-đủ, những tin-tức tối cần cho các chiến-lược gia ở Ngũ Giác Đài. Tướng Lyman Lemnitzer, Tham-mưu Trưởng cho biết: “Việc hủy-bỏ các phi-vụ U-2 sẽ gây ra một lỗ hổng quan-trọng, điều cần thiết là phải có một phương-tiện do-thám khác cũng hữu-hiệu như vậy để thay-thế”. T.T. Eisenhower tuyên-bố “chính-phủ đang hoàn-thành một hệ-thống do-thám khác, không cần đến vai-trò của các phi-cơ”, ám-chỉ đến 2 vệ-tinh nhân-tạo Midas II và Samos: một dùng để khám-phá ra các phi-đạn và một dùng vào việc chụp ảnh. Ngũ-Giác Đài cũng không giấu-giếm khi tuyên-bố: “Mọi tiềm-lực chiến-tranh của Nga đều đã bị các ống ảnh trên phi-cơ U-2 thu-nhận tất cả”. Bộ-trưởng Thomas S. Gates ngoài việc công-nhận thành-quả của U-2, ông còn nói thêm trước Ủy-ban Quân vụ Thượng-viện: “Chúng ta cần phải nhớ đến bài học Trân-Châu Cảng và đến cái thời mà người Mỹ không mở mắt nhìn ra ngoài”. T.T. Eisenhower cũng đã cho thấy một ý tương-tự: “Không một lúc nào sự do-thám lại bỏ lơi bởi vì Mỹ đã rút được khinh-nghiệm qua vụ Trân-Châu cảng, là sự thương-thuyết chỉ là một sự che-đậy sự sửa-soạn chiến-tranh”. Qua những lời tuyên-bố nói trên của các yếu nhân Mỹ đã cho thấy thành-quả to lớn của các phi-vụ U-2 như thế nào rồi.
g. Người Nga nói gì về U-2: Dĩ-nhiên con cáo già Khrouchtchev tìm cách làm giảm bớt các thành-quả do các phi vụ U-2 đã thu-thập được. Ông ta tuyên-bố trong Đại-hội Kỳ 3 của Đảng Cộng-sản Lỗ-Ma-Ni ở Bucarest vào ngày 21-6-1960: “Những phi-cơ U-2 chẳng khám-phá ra được chuyện gì quan-trọng và phi-cơ chỉ bay qua những vùng không đáng kể”. Lời nói của tên trùm đỏ này không đứng vững vì vào tháng 8-1960, người ta thấy bản cung-từ của phi-công Powers có đoạn như sau: “Công-tố viện nhận thấy có 5 nút bấm để điều-khiển các dụng-cụ do-thám trên phi-cơ và các dụng-cụ này đã hoạt-động rất hoàn-hảo khi phi-cơ bay qua các khu kỹ-nghệ lớn và các khu-vực phòng-thủ của Nga”. Bản cung-từ còn cho biết là những dấu hiệu ghi trong máy ghi điện-tử của phi-cơ “chính là những dấu hiệu của các đài Radar ở dưới đất phát ra theo hệ-thống phòng-thủ của Quân-lực Sô-viết”. Công-tố viện còn buộc tội thêm: “Powers đã chụp hình rất nhiều trung-tâm phòng-thủ của ta, đồng-thời ghi-nhận những tín-hiệu của các đài Radar truyền đi. Các cuộn phim tịch-thu được trên phi-cơ cho thấy hắn đã chụp hình nhiều căn-cứ kỹ-nghệ và quân-sự, cơ xưởng, kho dự-trữ dầu-hỏa, đường giao-thông, cầu-cống, đường hỏa-xa, nhà ga, đường dây điện cao-thế, phi-trường v.v...”. Theo các quan tòa Nga trong phiên xử: “Các bức hình chụp rất chính-xác và rõ-ràng”. Như thế, các phi-vụ của U-2 mang lại rất nhiều kết-quả, một điều không thể chối bỏ. Sau vụ U-2 bị bắn rơi, Nga đòi hỏi Mỹ phải chính-thức xin lỗi nhưng Mỹ chỉ nhận là “có cho phi cơ U-2 do-thám Nga” nhưng không đưa ra lời xin lỗi mà chỉ cho “ngưng các chuyến bay thám-thính” mà thôi.
h. Chuyện “về hưu” của U-2: Sau khi có nhiều cải tiến, thế hệ U-2 hiện nay có nhiều ưu điểm vượt trội rất cần thiết. Cuối tháng 3.2016, báo The Independent của Anh đưa tin Tướng chỉ huy quân Mỹ ở châu Âu cũng là Tư lệnh NATO là Philip Breedlove đã đề nghị xử dụng máy bay U-2 ở châu Âu để tiến hành hoạt động tình báo, giám sát và trinh sát (ISR) nhằm đối phó với Nga sau những hoạt động của Putin khi ông ta xem thường chính phủ Mỹ dưới sự lãnh đạo hèn nhát, yếu kém của Obama, một tổng thống không có khả năng và kinh nghiệm dù đối nội hay đối ngoại. Với bộ cảm ứng nhiệt có thể phát giác ra một quả mìn từ độ cao gần 26 km, các loại máy móc trên nó có thể thu thập nhiều dữ liệu, giám sát bất kỳ hoạt động nào của Nga ở vùng biên giới giáp các nước vùng Baltic hoặc Ukraine. Máy bay trinh sát U-2 thuộc loại “đồ cổ” nhưng đáng gờm trong công tác thu thập tin tức. Trong một báo cáo hàng năm về chiến lược của Mỹ ở châu Âu, vị tướng trên nhận xét “Máy bay U-2 cùng loại phi cơ do thám RC-135 Rivet Joint rất cần để tăng cường khả năng thu thập thông tin tình báo của bộ chỉ huy quân đội Mỹ ở châu Âu (EUCOM)”. Dù đã được sản xuất từ rất lâu nhưng những chiếc U-2 vẫn hơn hẳn so với máy bay do thám không người lái. Loại Global Hawk tuy tối tân, kích cỡ nhỏ, thời gian hoạt động lên tới 32 giờ cùng với việc không người lái chính là lợi thế của nó nhưng có giá thành đắt đỏ và chỉ có thể bay được ở độ cao 18.300m nên dễ bị bắn hạ hơn. Ngoài ra, những bức ảnh do Global Hawk chụp không rõ nét bằng những hình ảnh do U-2 cung cấp. Gần 60 năm sử dụng, U-2 là một trong những máy bay do thám độc đáo và không có loại tương tự trên thế giới từ trước tới nay. Trong vụ Nga đặt hỏa tiễn ở Cuba, U-2 đã cung cấp cho chính phủ Mỹ ví trí của tất cả các dàn hỏa tiễn của Nga. Trong các vùng dầu sôi lửa bỏng, khi cần tin tức, U-2 có mặt để ghi nhận: từ việc do thám Tàu Cộng, Bắc Hàn, Trung Cận Đông, Afghanistan, Iraq…Trong chiến tranh Việt Nam, 4 chiếc U-2 đến phi trường Biên Hòa nhưng sau đó không có nhu cầu nên Mỹ rút đi nơi khác.
Hình U-2 chụp được các phi đạn Nga đặt tại Cuba năm 1962
Theo tài liệu Ngũ Giác Đài công bố ngày 23-12-2005, một số giới chức Mỹ kêu gọi chấm dứt chương trình U-2 trước năm 2011. Tuy nhiên vào tháng 01-2006, Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld thông báo dời lại việc U-2 nghỉ hưu như một cách cắt giảm chi phí quốc phòng. Ông nói “Điều này sẽ không làm suy yếu Không quân, nhiệm vụ thu thập thông tin tình báo sẽ do các vệ tinh, các máy bay trinh sát không người lái RQ-4 Global Hawk đảm nhiệm”. Ngũ Giác Đài cùng Quốc hội Mỹ năm 2009 đã không thông qua việc cho U-2 nghỉ hưu, bởi không có hệ thống do thám nào có khả năng thay thế nó, những thiếu hụt sẽ xảy ra. Không quân Mỹ nói rằng họ có kế hoạch để kéo dài thời hạn nghỉ hưu của U-2 tới năm 2014 hay muộn hơn để các máy bay trinh sát không người lái RQ-4 Global Hawk có nhiều thời gian hơn để thay thế. Ngoài nhiệm vụ dò tìm, săn lùng các phi đạn của đối phương, giờ đây U-2 còn dùng để dò tìm bom mìn đặt bên vệ đường, ngay cả khi đang ở độ cao tối đa, các sensors của nó cũng có thể nhận biết được một xáo trộn nhỏ trong đất cát nếu chỗ đất đó mới được đào xới (để đặt mình bẫy) rồi lấp lại và ngụy trang như không bị đào xới, nhờ vậy tránh được thương vong. Điển hình, trong cuộc hành quân Moshtarak (ở Marjah, Helmand Province, Afghanistan), U-2 khám phá được gần 150 mìn chôn ở vệ đường và bãi đáp trực thăng, nhờ vậy TQLC Mỹ phá hủy được trước khi tiến vào. Sĩ quan TQLC cho biết, họ “Lệ thuộc vào các không ảnh chụp từ U-2 bằng máy chụp bằng phim (loại xưa) có độ phân giải cao nên có thể thấy được dấu chân của phiến quân, trong khi máy ảnh kỹ thuật số mới hơn, nhưng không bằng”. Một lợi thế khác, U-2 bay rất cao, trước đây tránh được phi đạn phòng không hay phi cơ địch, nay có thể thu thập được tín hiệu các cuộc điện đàm của địch bình thường hay bị núi che, không dò ra được từ mặt đất. Theo Trung Tá Brown, “U-2 thu thập đủ dữ kiện để bộ chỉ huy biết và quyết định sẽ làm gì: gửi máy bay không người lái đến để thu hình bằng video hoặc tấn công bằng hỏa tiễn hay gởi oanh tạc cơ đến phá hủy mục tiêu. Một khi cả U-2 lẫn máy bay không người lái cùng hoạt động trên cùng một khu vực, kết quả sẽ rất khả quan”. Trung Tá Jason M. Brown thuộc “Phi đội Tình báo chuyên Hoạch định sứ mệnh và Phân tích dữ kiện” nhận xét, “Như thể đã từng bay suốt nhiều năm, U-2 nay lại trở nên loại phi cơ ưu việt, nó có thể thực hiện được những gì mà không có thứ nào có thể làm được”. Nhóm nghiên cứu Skunk Works, một chi nhánh của Lockheed Martin bản doanh ở California (nơi chế ra U-2 và các “siêu” phi cơ khác như SR-71 Black Bird, F-117 Nighthawk, F-22 Raptor) cam đoan họ sẽ “hiện đại hoá” U-2 cho hoạt động thêm một số năm nữa (có thể đến năm 2050), như nâng cấp radar, thay động cơ… Skunk Works có đề án kết hợp U-2 với RQ-4 Global Hawk của Northrop Grumman với tên gọi là RQ-X hoặc UQ-2. Không lực Mỹ cho biết “Còn quá sớm để nói đến việc U-2 không có phi công”. Điều quan trọng khác, Tướng Không quân Mỹ Larry Spencer cho biết “Các cảm biến của U-2 cho hình ảnh rõ ràng và sắc nét hơn thiết bị tương tự của Global Hawk. Sẽ rất tốn kém nếu muốn trang bị cho Global Hawk những khả năng tốt như U-2".
III. Lời kết:
Các phi-cơ U-2 đã làm cho cuộc chiến do thám đi đến ngõ quanh mới: dùng máy móc thay cho con người, mở đầu thời đại “do thám kỹ thuật”. U-2 được tiếp-tục cải-tiến để dùng vào nhiều việc khác. Trong các cuộc chiến gần đây (Kosovo, Afghanistan, Iraq 1, 2) cùng các phi-vụ thường xuyên khác, thám-thính cơ U-2 cũng đã cung-cấp nhiều tin-tức tình-báo hữu-hiệu, góp phần mang lại thành công cho Hoa Kỳ và đồng minh tuy rằng nó đã “lớn tuổi”. Ngày nay, thế hệ “đàn em” của U-2 là các loại máy bay không người lái. Ngoài việc thay thế nhiệm vụ của U-2, các loại phi cơ nầy còn có thể xạ kích vào mục tiêu khi được trung tâm hành quân điều khiển, là một điểm hữu dụng khác. Thời gian gần đây, Nga Tàu cùng vài nước côn đồ hung hăng hiếu chiến đã và sẽ làm cho thế giới điêu-linh hơn nhiều do họ thủ đắc những loại vũ khí mới, tạo cho hình thái chiến tranh sẽ khủng-khiếp hơn. Nhân loại luôn vẫn mong mỏi sống trong hòa-bình tự do no ấm, nhưng ước vọng nầy đã bị chủ nghĩa Cộng Sản độc tài và ngày nay còn thêm các thế lực Hồi giáo quá khích kịch-liệt ngăn trở. Do vậy, các phương tiện phục vụ cho chiến tranh đôi khi cũng cần thiết để tiêu diệt những thành phần bất hảo hầu duy trì hòa bình cho nhân loại, có phải đó là ý nghĩa của câu “vũ khí phục vụ cho hòa bình”, điều vừa nghe qua là phi lý nhưng có lẽ cũng không sai chăng?
Lê Chánh Thiêm.
Tài-liệu tham-khảo:
- “Central Intelligence Agency” by Andrew Tully.
- The Black Lady - Lockheed Aircraift Corporation.
- The 10-10 Reconnaissance Detachment.
- Wikipedia – Google
- Tài liệu tổng hợp.
* * *
Xem bài cùng tác giả, click vào đây
Xem trang Kiến thức, tài liệu, click tại đây
Trở về trang chính: http://www.nuiansongtra.com